• TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN LẠC
  • MỤC LỤC
  • SƠ ĐỒ BLOG
  • TỦ SÁCH
  • ĐĂNG NHẬP
  • ĐỌC TIN RSS
  • TRANG CHỦ
  • Tin Tức
    • Thời Sự
    • Xã Hội
    • Phật Giáo
    • Khác
  • BHXH - BHYT
    • Luật
    • Nghị định
    • Thông tư
    • Quyết định
    • Công văn
    • Đề tài
  • Lao Động
    • Luật
    • Nghị Định
    • Thông Tư
    • Quyết Định
    • Công Văn
    • Đề Tài
  • Kế Toán - Kiểm Toán
    • Luật
    • Nghị Định
    • Thông Tư
    • Quyết Định
    • Chuẩn Mực KT-KT
    • Công Văn
    • Đề Tài
  • VĂN BẢN THUẾ
    • Luật Quản Lý Thuế
    • Thuế GTGT
    • Thuế TNDN
    • Thuế TNCN
    • Thuế XNK
    • Thuế TTĐB
    • Các Loại Thuế Khác
    • Các Phần Mềm Kê Khai Thuế
    • Đề Tài
  • TIN HỌC
    • Văn Phòng
    • Ứng Dụng
    • Multimedia
    • Kiến Trúc
  • Văn Hóa
    • Việt Nam
    • Thế Giới
    • Gia Đình
    • Ẩm Thực
    • Thời Trang
  • Chia Sẻ
    • Hình Ảnh
    • cá nhân
    • Bạn Bè
    • gia đình
    • Người Thân
  • Thư Giãn
    • Âm Nhạc
    • Phim Ảnh
    • Thể Thao
    • Hài Hước
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
HAPPY NEW YEAR 2013

Chúc cả nhà hưởng trọn một năm mới 2013: 

Sung Túc - An Khang - Thịnh Vượng 






Xuân 2013, mọi nhà phồn vinh và như ý


 


AN KHANG - THỊNH VƯỢNG - HẠNH PHÚC ĐONG ĐẦY






Đại sứ Mỹ David Shear chúc Tết Quý Tỵ 2013








Một chút của em là điệp khúc

Nhạc: Miên Du Đà Lạt - Thơ Nguyễn Đình Lân Hương - Ca sĩ: Diệu Hiền
Ngày mai tôi sẽ về
Nhạc: Quách Nam Dung - Thơ Miên Du Đà Lạt - Ca sĩ: Anh Huy
Hoài cảm
Nhạc: Cung Tiến - Tiếng hát: Lệ Thu
Nghìn trùng xa cách
Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
Dạ Quỳnh Hương
Nhạc: Phạm Anh Dũng - Ca sĩ: Trần Thái Hoà
Nửa hồn thương đau
Nhạc: Phạm Đình Chương - Tiếng hát: Lệ Thu
Hương xưa
Nhạc: Cung Tiến - Tiếng hát: Lệ Thu
Hướng về Hànội
Nhạc: Hoàng Dương - Tiếng hát: Lệ Thu
Ông đồ
Thơ: Vũ Đình Liên
Gọi mùa thu mơ
Nhạc: Phạm Anh Dũng - Tiếng hát: Duy Trác
Đưa em tìm động hoa vàng
Thơ: Phạm Thiên Thư - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh)
Biết em có về trong đêm nay
Nhạc: Nguyễn Đức Cường - Ca sĩ: Quang Tuấn
Nhà đâu
Thơ: Dương Kiền - Nhạc: Thuỵ Minh - Ca sĩ: Khắc Dũng
Thuyền viễn xứ
Nhạc: Phạm Duy - Trình bày: Lệ Thu
Mười năm tình cũ
Nhạc: Trần Quang Nam - Trình bày: Lệ Thu
Kiếp nào có yêu nhau
Thơ: Hoai Trinh - Nhạc: Phạm Duy - Trình bày: Mỹ Linh
Giọng Hà Nội xưa
Thơ: Hoàng Song Liêm - Diễn ngâm: Hồng Vân
Đôi mắt người Sơn Tây
Thơ: Quang Dũng - Nhạc: Phạm Đình Chương - Ca sĩ: Duy Trác
Đôi mắt người Sơn Tây
Thơ: Quang Dũng - Diễn ngâm: Hồng Vân
Suối lệ xanh
Nhạc: Phạm Mạnh Cương - Trình bày: Tuấn Ngọc
Xin còn gọi tên nhau
Nhạc: Trường Sa - Trình bày: Lệ Thu
Nhạt nhoà
Nhạc: Trần Văn Lương - Ca sĩ: Quỳnh Lan
Tình khúc thứ nhất
Nhạc: Vũ Thành An - Trình bày: Lệ Thu
Anh còn yêu em
Nhạc: Anh Bằng - Trình bày: Thiên Kim - Nguyên Khang - Y Phương
Như chiếc que diêm
Nhạc: Từ Công Phụng - Trình bày: Quang Dũng
Xin hãy cho nhau nụ cười
Nhạc và Lời: Miên Du Đalat - Ca sĩ: Hương Giang
Đời đá vàng
Nhạc: Vũ Thành An - Ca sĩ: Khánh Hà
Mùa thu cánh nâu
Nhạc: Nguyễn Ánh 9 - Ca sĩ: Quỳnh Lan
Khuc thụy du
Nhạc: Anh Bằng - Ca sĩ: Nguyên Khang
Quỳnh
Nhạc: Phạn Anh Dũng - Trình bày: Diệu Hiền
Cây giăng tay chờ ai
Nhạc: Miên Du ĐàLạt - Trình bày: Diệu Hiền
Dù chỉ một lần thôi
Nhạc: Trúc Hồ - Trình bày: Bảo Yền
Về đây nghe em
Nhạc: Trần Quang Lộc - Ca sĩ: Quang Dũng
Cô đơn
Nhac: Nguyễn Anh 9 - Ca sĩ: Ánh Tuyết
Đêm nguyệt quỳnh
Nhạc: Phạm Anh Dũng - Thơ: Vương Ngọc Long - Ca sĩ: Bảo Yến
Ngậm ngùi
Thơ: Huy Cận - Nhạc: Phạm Duy - Ca sĩ: Lily Doiron
Rong rêu
Nhạc: Nguyễn Tâm - Ca sĩ: Nguyên Khang
Nắng từ đâu gọi bình minh
Thơ: Kiều Mộng Hà - Nhạc: Miên Du Đalat - Ca sĩ: Mai Thiên Vân
Áo đời con rách ai khâu bây giờ
Nhạc: Ái Hoa - Lời & Trình bày: Như Ly
Chờ người
Nhạc: Lam Phương - Ca sĩ: Lệ Thu
Dòng sông đứng lại
Thơ: Trần Mộng Tú - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Ca sĩ: Quỳnh Lan
Thà nói với nắng
Nhạc: Nghiêm Minh - Ca sĩ: Hồ Lệ Thu
Đâu phải bởi mùa thu
Nhạc: Phú Quang - Thơ: Giáng Vân - Ca sĩ: Mỹ Linh
Hà Nội và tôi
Nhac: Lê Vinh - Ca sĩ: Nguyễn Toàn
Lá theo gió về đâu
Thơ: Miên Du Đà Lạt - Nhạc: Trần Thuỵ Minh - Ca sĩ: Quỳnh Lan
Tiếng sáo thiên thai
Nhạc: Phạm Duy - Ca sĩ: Khánh Hà, Thúy Anh, Lưu Bích
Người em sầu mộng
Thơ: Lưu Trọng Lư - Nhac: Y Vân - Ca sĩ: Hồng Nhung
Tương tư
Thơ: Nguyên Sa - Nhạc: Đinh Long - Ca sĩ: Minh Châu
Anh rồi cũng muộn màng
Thơ: Phan Cát Linh - Nhạc: Hàn Sĩ Nguyên - Ca sĩ: Quỳnh Lan
Theo dòng nước trôi
nhạc & lời: Miên Du Đà Lạt - trình bày: Quỳnh Lan
Hoài niệm - Senerata
Nhạc: Tossilli - Lời Việt: Phạm Duy - Ca sĩ: Mai Hương
Tình là hư không
Nhạc: Phạm Anh Dũng - Ca sĩ: Bảo Yến
Khi em bỏ rừng
Nhạc và Lời: Miên Du Đalat - Ca sĩ: Huy Tâm
Mùa xuân gió cuộn tóc thề
Nhạc: Miên Du Đàlạt - Trình bày: Diêu Hiền - Hoàng Quân
* * *

Nguồn: Internet

















Hoa hay là rác?

 

Hòa Thượng Thích Thanh Từ


Ðề tài tôi nói chuyện với Tăng Ni và Phật tử hôm nay có tên Hoa hay là rác?  Vừa rồi, đi chơi buổi sáng qua nội viện Ni ở Trúc Lâm, tôi thấy mấy cây hoa trà mi nở rộ thật đẹp. Vài hôm sau cũng đi qua chỗ đó thấy nó rụng xuống đầy đất, không ai chịu quét nên Quản chúng rầy: "Rác rến đầy hết mà sao không chịu quét", nhân đó tôi có đề tài này.


Hôm qua còn ở trên cành, ai cũng trầm trồ khen đẹp, nhưng vài hôm sau héo rụng xuống đất, không ai gọi là hoa đẹp nữa mà nói là rác rưởi, không chịu dẹp sạch thì bị rầy. Như vậy hoa là hoa mãi hay chỉ là hoa ít hôm rồi thành rác? Chỉ việc này nếu chúng ta nghiệm kỹ sẽ thấy đạo lý rất thâm sâu.
Lúc còn ở Chân Không, nhân thấy con chó chết, tôi có làm hai câu kệ: "Còn động còn ấm còn ta, động dừng ấm dứt thì ma ra đồng." Thân chúng ta cũng vậy, khi còn hơi ấm, còn thở ra vào thì còn là người thân, người yêu, người quí của mình. Nhưng phút trút hơi thở cuối cùng, hơi ấm tan dần, lúc đó gọi là người thân yêu hay là thây ma? Cũng như từ một đóa hoa tươi tốt, chúng ta khen quí, ít hôm sau thành rác rưởi bị chê bỏ, không quét không được. Từ một người thân đang được quí mến mà trút hơi thở cuối cùng, tất cả hơi ấm trong người tan hết, liền trở thành một thây ma. Dù thân quyến thương mến mấy cũng không ai dám để thây ma đó trong nhà quá năm bảy hôm.
Người quí mến của mình hôm trước, bữa nay có khác với đóa hoa không? Ðóa hoa còn tươi trên cành được quí, ai hái mình la rầy. Mấy hôm sau nó rụng xuống đất khô héo, ai không quét mình cũng rầy. Thân chúng ta khi khỏe mạnh vui tươi ai cũng quí mến, nhưng mai kia tắt thở không còn hơi ấm nữa, chừng năm mười tiếng đồng hồ người ta bắt đầu sợ từ từ rồi. Nếu để năm ba hôm không đậy, chắc chắn không ai dám nhìn. Thế thì có thua gì xác hoa rụng đâu.
Chẳng những thân phận con người, mà tất cả sự vật trên thế gian này đều như thế. Chúng chỉ có giá trị khi còn tốt, còn lợi ích, đến lúc sức tàn lực kiệt, sắc màu phai nhạt thì tất cả đều không ra gì. Vậy mà khi sống còn nói năng đi lại, chúng ta có chịu nhịn chịu thua ai không? Ít nhiều gì cũng ráng cãi cho thắng người, dù cuối cùng mình chỉ là một thây thối thôi. Thiền sư Mãn Giác có làm bài kệ Tết thế này:

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai,
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Tạm dịch:

Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười,
Sự việc trôi qua mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết,
Ðêm qua sân trước một cành mai.

Chỉ bốn câu trên thôi đủ để tả sự đổi thay không bao giờ dừng lại của cả thế gian. Mùa Xuân đến hoa nở, mùa Xuân đi thì hoa tàn. Hoa nở rồi tàn, người sanh rồi tử, cũng giống như nhau. Từ các sự vật bên ngoài cho đến bản thân con người đều chịu chung một qui luật, nở rồi tàn, sanh rồi tử, không ai thoát được hết. Chúng ta hiện sống trên quả địa cầu đang quay vùn vụt, nếu nó ngừng quay thì mọi vật sẽ nổ tung. Con người cũng vậy, sống trong cái động tự nhiên chúng ta phải chịu chung một qui luật vô thường. Luật vô thường này không tha thứ, không chừa một ai, thế mà mình lại không nhớ. Làm được việc này việc nọ rồi thì hăng hái xông pha hoài, không nhớ ngày mai mình ra sao!
Thiền sư Mãn Giác nói "Sự trục nhãn tiền quá" tức là trước mắt luật vô thường giống như dòng nước cuốn trôi hết. Tất cả sự vật trên thế gian đều bị dòng nước vô thường cuốn đi, không dừng ở một chỗ. Nhìn lại mình đầu đã bạc trắng lúc nào không hay, đó là luật vô thường cuốn trôi.
Nhưng Thiền sư còn có hai câu thơ sau: Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận, Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai, nghĩa là "chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua trước sân còn cành mai". Tất cả hoa đều bị thời gian Xuân, Hạ, Thu, Ðông làm tàn phai, rơi rụng, nhưng có một loài hoa vẫn nở rực vào tiết mùa Ðông. Hai câu thơ chót thấm thía làm sao! Trong cảnh đời vô thường, muôn vật cho đến con người, không ai thoát khỏi sự sanh diệt, thế mà vẫn còn có một cái luật vô thường không chi phối được. Nó vẫn đứng vững giữa dòng chảy vô thường. Ðó là cành mai. Như vậy cành mai nói lên cái gì?
Ðạo Phật nhìn đúng chân lý của muôn sự muôn vật, thấy rõ luật vô thường, nhưng trong cái vô thường ấy lại ngầm có cái chân thường bất sanh bất diệt. Song con người không biết không nhận ra, nên chỉ thấy luật vô thường chi phối. Chúng ta là hàng xuất gia, có nên chấp nhận dòng cuốn ấy hay giống như hoa mai, vẫn nở rực giữa mùa Ðông lạnh giá? Nếu cưỡng lại luật vô thường gọi là giải thoát sanh tử, còn đi theo luật vô thường là trôi lăn trong sanh tử. Ðó là một vấn đề hết sức thiết yếu.
Người xuất gia là người chấp nhận trôi lăn trong luân hồi sanh tử hay giải thoát luân hồi sanh tử? Ðó là câu hỏi mà tất cả Tăng Ni, Phật tử chúng ta phải hiểu, phải thấm. Chúng ta chịu đưa tay đầu hàng con quỉ vô thường, mặc tình cho nó dẫn đi đâu thì đi hay ngược lại, phải thoát ra vòng tay của nó? Nếu qui thuận đầu hàng thì tu làm gì, ở ngoài thế gian hưởng thụ ăn ngon, mặc đẹp cho sướng. Ði tu chay lạt, khổ sở làm chi cũng bị quỉ vô thường dẫn đi, có hơn ai đâu. Vấn đề này cần phải thâm hiểu cho thấu đáo mới thấy giá trị của người tu là cao siêu. Nếu ta thả trôi ai sao mình vậy thì người tu không kém gì kẻ thế tục.
Vậy muốn đối đầu với vô thường chúng ta phải làm sao? Hoa mai nở vào mùa Ðông là hình ảnh thoát ra ngoài định luật vô thường, chúng ta tìm ở đâu ra cái thoát khỏi vô thường đó? Ðây là điều then chốt người tu chúng ta cần phải thấu triệt.
Chúng tôi chủ trương mỗi đêm Tăng Ni phải tụng Bát-nhã, xả thiền cũng tụng Bát-nhã là để làm gì? Tôi nhắc lại một đoạn trong Bát-nhã, đức Phật đã chỉ cho chúng ta lối thoát ra khỏi luật vô thường như thế này: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách." Nghĩa là Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua tất cả khổ ách. Một câu này thôi đủ giải thoát rồi.
Từ lâu chúng ta sống trong vô minh tăm tối, chấp thân tứ đại là thật, tâm sanh diệt nghĩ suy phân biệt là tâm mình thật. Thấy hai thứ đó thật, nhà Phật gọi là vô minh. Vì chấp thân thật nên quí thân, quí luôn những gì thân ưa thích. Như vậy từ chấp thân thật, chúng ta chạy theo sự đòi hỏi của nó, gom góp tất cả vật chất nó thích về mình. Kế đó cho cái hay suy nghĩ, phân biệt, cảm xúc là tâm tôi. Tôi nghĩ thế này, tôi nghĩ thế nọ, tôi buồn, tôi thương, tôi giận, tôi ghét, tất cả đều là tôi hết.
Cuộc sống con người quan trọng ở hai mặt vật chất và tinh thần, hay nói cách khác là thân và tâm. Thân thì chấp tứ đại thật, tâm thì chấp phân biệt, hơn thua, phải quấy, tốt xấu là tâm mình thật rồi tự mãn với bao nhiêu đó. Không biết thân này tạm bợ, đủ duyên thì còn, thiếu duyên thì mất. Trăm người, vạn người, cho đến ức triệu người, không ai thoát khỏi già chết. Cái không thể giữ, không thể còn mãi mà chúng ta cố giữ, như vậy có đúng không?
Nếu thân này thật thì cha ông chúng ta phải còn. Hỏi ra tất cả đều mất hết, mình cũng sắp mất nữa, thì thật ở chỗ nào? Cái không thật mà tưởng là thật gọi đó là gì? Là vô minh, mù tối, không nhận chân được lẽ thật. Kế đó tâm suy nghĩ, tưởng tượng, được mất, hơn thua, phải quấy, cho là tâm mình. Nhưng khi nhìn kỹ xem những thứ đó ở đâu? Tìm lại không thấy, nó biến dạng biến hình mất tiêu. Nếu thật thì phải có chỗ trú ẩn, nếu không có thì rõ ràng là không thật. Chẳng qua chúng chỉ là bóng dáng tiền trần do mình tưởng tượng ra, rồi theo đó tạo nghiệp chịu luân hồi sanh tử.
Như vậy chấp thân thật, chấp tâm thật là gốc của luân hồi sanh tử, nên đức Phật dạy Bồ-tát Quán Tự Tại quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Không. Sắc tức là thân tứ đại, duyên hợp tạm có không thật. Thọ tức là cảm giác của mình, mắt thấy sắc liền phân biệt đẹp xấu, đẹp thì thích, xấu không thích, đó là cảm thọ của mắt. Tai nghe tiếng khen chê liền vui buồn, đó là cảm thọ của tai. Cho tới lưỡi, thân cũng vậy, những cảm giác mình ưa thích hoặc không ưa thích v.v. đều thuộc về Thọ uẩn. Chúng không tự có, đợi cảnh duyên tiếp xúc với các căn mới có. Như vậy thọ cũng không thật, là Tánh không.
Tưởng tức những tưởng nhớ về quá khứ hay vị lai v.v. chúng cũng đều là bóng dáng không thật. Quá khứ đã qua, vị lai chưa đến, hiện tại là một dòng sanh diệt, thế thì tưởng cái gì? Cho nên biết tưởng chỉ là ảo tưởng thôi, không thật. Hành là suy tư, niệm này sanh niệm kia diệt. Thí dụ chúng ta đi chợ, định mua món thứ nhất là rau cải, món thứ hai là nước tương, thứ ba là gì đó, nghĩ cái này, nghĩ cái kia, nghĩ luôn luôn không dừng, nên gọi hành, tức từng bước từng bước tiến chớ không dừng ở một chỗ. Như vậy hành cũng không thật. Ðến thức phân biệt đẹp xấu, hơn thua, phải quấy là y cứ trên căn và cảnh mà có sự phân biệt. Nếu căn cảnh đã không thật thì thức cũng không thật.
Tóm lại thọ, tưởng, hành, thức, bốn thứ này thuộc tâm, sắc thuộc về thân. Bản tánh của thân tâm là không, duyên hợp tạm có, hư ảo không thật. Nhưng chúng ta thấy nó thật nên mới sanh ra luân hồi khổ đau muôn kiếp. Bây giờ chỉ cần soi thấu Sắc uẩn là thân duyên hợp hư dối; thọ, tưởng, hành, thức là bóng dáng duyên theo sáu trần không thật. Hai thứ đó đều không thật, tánh nó là Không, theo duyên tạm hiện. Thấu đáo điều đó rồi chắc chắn chúng ta vượt qua hết tất cả khổ ách.
Chúng ta tu là thâm nhập lời Phật dạy, hiểu cho thấu đáo để ứng dụng tu, chớ không phải tụng kinh cho Phật nghe. Phật thuộc rồi mới dạy mình, vậy mà đêm nào ta cũng tụng cho Phật nghe thì tội nghiệp Phật quá, nghe hết bài kinh này đến bài kinh nọ cũng mệt mỏi chứ! Tụng kinh là nhắc lại lời Phật dạy, nhớ hiểu để ứng dụng tu cho đúng, chớ không phải đánh mõ cho nhanh tụng cho lẹ để rồi bổn phận. Giải y ra thấy cái gì cũng thật, chứng nào vẫn tật nấy, tụng kinh như thế chẳng khác nào chê bai đùa giỡn với Phật.
Phật nói pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên hàng Nhị thừa cho là chân lý, nên Ngài bảo pháp ấy cũng không thật luôn. Vì sao? Vì pháp là để trị bệnh chúng sanh. Chúng sanh có bệnh gì Phật nói pháp đó để trị. Bệnh lành rồi thuốc cũng phải bỏ. Bởi thuốc và bệnh đều không thật. Nếu bệnh thật thì không lành, đã lành thì không thật. Bệnh không thật thì thuốc cũng không thật. Cho nên cả Tứ đế, Thập nhị nhân duyên đều không thật, tất cả pháp đối đãi đều không thật. Vì vậy Phật nói không vô minh, không vô minh diệt. Phá được mê lầm về thân, về tâm thì chúng ta hết khổ.
Như vậy làm sao tìm ra cái thật đây? Câu "dĩ vô sở đắc cố", nghĩa là vì không có sở đắc, nên Bồ-tát diệt hết những buồn phiền, đau khổ để đi tới Niết-bàn vô sanh. Như vậy cái gì biết tất cả pháp không thật? Ðó là Bát-nhã. Bát-nhã là trí tuệ chân thật của chính mình, soi thấy được lẽ thật nên tiêu diệt hết những nghĩ tưởng điên đảo, cứu kính đạt đến Niết-bàn.
Cho nên trong thân hư ảo, tâm giả dối vẫn còn có cái chân thật. Cái ấy "biết" hư ảo, "biết" giả dối, đó chính là Trí tuệ Bát-nhã. Chúng ta sống được với trí tuệ này thì đi tới chỗ vô sanh. Chẳng riêng Bồ-tát thấy như vậy mà cả ba đời chư Phật cũng đều thấy như vậy. Ðọc kinh Bát-nhã, ta có cảm tưởng dường như có sự mâu thuẫn. Trước thì nói không có gì thật, không có gì được, cuối cùng lại được. Ðược một cái mà chúng ta đã từng có mà từng quên, nên nói được nhưng thật ra không được gì cả.
Nơi mình có sẵn Trí tuệ Bát-nhã nhưng vì không biết sử dụng, cũng như người chiến sĩ có sẵn cây kiếm bén, nhưng giặc tới đưa tay chịu trói chớ không dùng kiếm của mình được. Chúng ta cũng vậy, có Trí tuệ Bát-nhã rất bén nhạy, rất siêu thoát nhưng không sử dụng nên quỉ vô thường tới liền đưa tay đầu hàng, mặc tình nó dẫn đi trong lục đạo luân hồi, chớ không chống cự được.
Trí tuệ Bát-nhã không dính, không kẹt với tất cả các pháp hư ảo nên thoát ly được sanh tử. Mọi vật trên thế gian đều bị vô thường chi phối, đều bị biến động, còn trí tuệ Bát-nhã không bị vô thường chi phối, không bị biến động nên không có lực nào làm tổn hại nó được. Tu như vậy mới xứng đáng một đời tu, cầu đạo giác ngộ giải thoát. Chớ chỉ tu hình tướng, ngày này qua ngày nọ, tụng kinh cho Phật nghe v.v. thì không biết kiếp nào mới thoát khỏi luân hồi sanh tử được.
Hiểu tường tận thế rồi, trên đường tu chúng ta mới khỏi lầm lẫn. Tôi thấy đa số người tu đều quí thân như vàng ngọc, rất quan trọng lời khen tiếng chê, cho nên phiền não dẫy đầy. Ðó là vì không thấu triệt được lý đạo, cứ ngỡ mình tụng kinh gõ mõ thế là tu tốt rồi. Ðâu phải ăn chay là giải thoát, đâu phải tụng kinh nhiều là giải thoát mà phải thấu đáo được lời Phật dạy, sống đúng như vậy mới giải thoát sanh tử được.
Hôm nay nhân ngày lễ khánh thành Thiền viện Hương Hải, tôi nói cho Tăng Ni hiểu rõ hàng xuất gia phải tu sao cho xứng đáng, không hổ thẹn vì đã đầu hàng qui luật vô thường, chúng ta nhất quyết giải thoát khỏi vô thường, đó là điều ghi tâm khắc cốt của những người con Phật.
Mong tất cả Tăng Ni nghe hiểu và ứng dụng đúng những gì Phật dạy. Ðược vậy, lo gì chúng ta không ngửi được mùi hương của hoa mai giữa mùa Ðông lạnh giá.






Qua bài giảng thuyết của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Thầy Út Bỉnh đọc và xin chia sẻ cảm nhận của Thầy Út Bỉnh qua bài Audio được thu lại với dung lượng: 13.27MB. Quý khách cần xin load nghe tại đây

Nhân đây, xin chia sẻ các website Thầy Út Bỉnh tự lập để chia sẻ cho cộng đồng xã hội : http://utbinhdesign.wordpress.com/ - http://utbinh.com/ub/index.php?option=com_fireboard&Itemid=27


Có 1 tâm sự buồn do thấy cái nhìn của 1 con người quá ấu trĩ

Đôi khi tôi phải thử tập nhậu, tập đi, tập đứng, tập nhịn khóc, tập cười,...tất cả đều phải học tập để xem khả năng của mình như thế nào? Không ngờ cũng ép phê, có người quan tâm đến
nhiều nơi - (Còn biết ghi nhận lại Nguồn gốc bài viết - không đến độ sống vô cảm, lướt web với công nghệ C and P "Copy and Paste", cướp công sức người đã bỏ công ra ngồi viết bài để đưa bài vào diễn đàn của mình) và nhiều nơi khác. Nghĩ lại cũng không tiếc công sức ngồi học hỏi của mình để ứng dụng và chia sẻ.

Có người bảo có ngày ông bị ban nick vĩnh viễn đấy, ông mà đi cạnh tranh với các diễn đàn khác thì đời ông toi không hay lúc nào. Ôi tại sao ấu trĩ, nghĩ thế nhỉ, cái link của mình share có mục đích gì? Quảng cáo để lấy tiền ư? Hay là kênh thứ 2 phân phối thông tin dùm cho các bác nhỉ? Blog thì nhỏ xíu làm được chi, không lẻ 1 con én tạo nên 1 muà xuân. Lực lượng, đội ngũ thỉ chả có.


Chắc chưa hiểu được hết lý do gì phải có cái blog này. Chả qua là để viết bài thuận lợi hơn, có thể ứng dụng (dùng code html, flash,.......) để kẻ bảng và nhiều việc khác để minh hoạ trực quan hơn.


Cái tên blog rất dễ hiểu, rất gần gũi, thân thương với các bạn đang làm công tác kế toán: TRI THỨC KẾ TOÁN, logo KB (Knowledge Base - Cơ sở tri thức); mục đích hệ thống lại kiến thức cho cá nhân mà với mỗi cá nhân thì không đủ sức để viết bài, nhiều bài viết còn đang ở nháp vẫn chưa xuất bản đưa hẳn lên.




Đơn giản Blog http://trithucketoan.blogspot.com/ là thế.

Từ tâm sự trên, tôi mới ngộ ra câu truyện:

Con voi sợ con kiến. Con voi thì bụng to đầu nhỏ trong khi con kiến đầu to mình thì nhỏ. 

Blog trithucketoan (http://trithucketoan.blogspot.com/) vẫn luôn mong các bạn quan tâm đóng góp để cho blog mỗi ngày có nhiều bài hữu dụng, bổ ích hơn để chia sẻ cho các bạn đang làm công tác kế toán, nhân sự.


Ảnh: Nguồn Internet



Liên bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài chính, Lao động Thương binh và Xã hội vừa ban hành Thông tư liên tịch 03 /2012/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB&XH hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về học tập đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người theo Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015. 



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - 
BỘ TÀI CHÍNH - BỘ LAO ĐỘNG
 THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
--------------------
 Số: 03/2012/TTLT-BGDĐT-BTC-
            BLĐTB&XH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------
Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2012


THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về học tập đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người theo Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với
các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015


Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
Thực hiện Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015,
Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về học tập đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người theo quy định tại Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quyết định 2123/QĐ-TTg) phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015 như sau:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư này hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về học tập đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người theo quy định tại Điểm 4 Mục IV  Điều 1 của Quyết định 2123/QĐ-TTg.
2. Đối tượng áp dụng: Trẻ em 3 - 5 tuổi, học sinh, sinh viên 9 dân tộc rất ít người Ơ Đu, Pu Péo, Si La, Rơ Măm, Cống, Brâu, Bố Y, Mảng, Cờ Lao có gia đình cư trú tại 6 tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Kon Tum đang học tập trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề công lập ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam.

Điều 2. Điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ học tập
Trẻ em 3 -5 tuổi, học sinh, sinh viên thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 1 của Thông tư này được hưởng chính sách hỗ trợ học tập khi đáp ứng hai điều kiện sau đây:
1. Có gia đình cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại các văn bản dưới đây:
- Quyết định số 164/2006/QĐ-TTg ngày 11/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135 giai đoạn II);
- Quyết định số 113/2007/QĐ-TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách xã hoàn thành mục tiêu Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đồng bào dân tộc, miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa giai đoạn 1999-2005, bổ sung các xã, thôn, bản vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II và xã vùng bãi ngang ven biển và hải đảo vào diện đầu tư của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010;
- Quyết định số 01/2008/QĐ-UBDT ngày 11/01/2008 của Ủy ban Dân tộc về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II;
- Quyết định số 69/2008/QĐ-TTg ngày 28/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt bổ sung danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn II và danh sách xã ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II;
- Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo;
- Quyết định số 1105/QĐ-TTg ngày 28/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt bổ sung danh sách các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn II và danh sách xã hoàn thành mục tiêu, ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II.
2. Là nhân khẩu thuộc hộ nghèo (chuẩn nghèo theo quy định của Chính phủ và hộ nghèo theo quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp huyện từng năm).
 Điều 3. Mức hỗ trợ, thời gian được hưởng, hình thức hưởng
1. Mức hỗ trợ:
a) Nhóm 1: gồm các đối tượng trẻ em 3 - 5 tuổi, học sinh, sinh viên học tại các trường, lớp công lập được gọi chung là cơ sở giáo dục, cụ thể như sau:
- Đối với trẻ em 3 - 5 tuổi (đạt đến 3, 4 hoặc 5 tuổi trong năm học theo giấy khai sinh) thuộc hộ nghèo đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập, được hưởng mức hỗ trợ bằng 30% mức lương tối thiểu chung/trẻ/tháng.
- Đối với học sinh tiểu học thuộc hộ nghèo đang học tại các điểm trường ở thôn, bản được hưởng mức hỗ trợ bằng 40% mức lương tối thiểu chung/học sinh/tháng; học sinh tiểu học thuộc hộ nghèo học tại trường phổ thông dân tộc bán trú và ở bán trú được hưởng mức hỗ trợ bằng 60% mức lương tối thiểu chung/học sinh/tháng.
- Đối với học sinh trung học cơ sở thuộc hộ nghèo đang học tại trường phổ thông dân tộc bán trú và ở bán trú được hưởng mức hỗ trợ bằng 60% mức lương tối thiểu chung/học sinh/tháng; học sinh trung học cơ sở thuộc hộ nghèo học tại trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện được hưởng học bổng bằng 100% mức lương tối thiểu chung/học sinh/tháng.
- Đối với học sinh trung học phổ thông thuộc hộ nghèo đang học tại các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh và trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông được hưởng học bổng bằng 100% mức lương tối thiểu chung/học sinh/tháng.
- Đối với học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo học tại các trường, khoa dự bị đại học, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp được hưởng học bổng bằng 100% mức lương tối thiểu chung/người/tháng.
b) Nhóm 2: gồm các đối tượng học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo học tại các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề công lập (gọi chung là cơ sở dạy nghề), được hưởng học bổng bằng 100% mức lương tối thiểu chung/người/tháng.
2. Thời gian được hưởng hỗ trợ: 12 tháng/năm cho đối tượng có thời gian học 9 tháng/năm trở lên; trường hợp đối tượng học không đủ 9 tháng/năm thì được hưởng theo thời gian học thực tế.
3. Chi phí hỗ trợ học tập được chi trả bằng tiền mặt; tính trên mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ.
Điều 4. Hồ sơ, trình tự, thủ tục và phương thức chi trả
1. Hồ sơ xét cấp tiền hỗ trợ học tập gồm có:
- Đơn đề nghị hỗ trợ học tập (mẫu đơn kèm theo Thông tư này: Phụ lục I dùng cho học sinh mẫu giáo và phổ thông; mẫu đơn theo Phụ lục II dùng cho học sinh, sinh viên học tại các trường, khoa dự bị đại học, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề);
- Giấy khai sinh (bản sao);
- Giấy chứng nhận hộ nghèo do uỷ ban nhân dân cấp xã cấp (bản sao).
Đơn đề nghị hỗ trợ học tập và bản sao giấy khai sinh chỉ phải nộp lần đầu khi đề nghị xét cấp trong cùng một cơ sở giáo dục.  
2. Trình tự và thời gian thực hiện:
a) Đối với trẻ em 3 - 5 tuổi, học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục (thuộc Nhóm 1) trực thuộc Uỷ ban nhân dân 6 tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Kon Tum:
- Đầu năm học, cơ sở giáo dục có học sinh dân tộc rất ít người theo học tổ chức phổ biến, thông báo rộng rãi, hướng dẫn cho cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ mẫu giáo hoặc học sinh, sinh viên thuộc đối tượng được hưởng chính sách viết, gửi đơn đề nghị hỗ trợ học tập. 
Cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ mẫu giáo hoặc học sinh, sinh viên khi đến nộp đơn tại cơ sở giáo dục phải xuất trình bản gốc và 01 bản sao các loại giấy tờ quy định về hồ sơ xét cấp tại Khoản 1 Điều này. Người nhận hồ sơ đối chiếu bản sao với bản gốc, ký xác nhận tính xác thực của bản sao và ghi rõ họ tên vào bản sao để đưa vào hồ sơ.
Trong vòng 45 ngày, kể từ ngày khai giảng năm học, cơ sở giáo dục lập danh sách trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên được đề nghị cấp tiền hỗ trợ học tập, kèm hồ sơ xét cấp, gửi đến phòng giáo dục và đào tạo (đối với các cơ sở giáo dục do Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý) hoặc sở giáo dục và đào tạo (đối với cơ sở giáo dục do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý).
- Trong vòng 15 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo tổ chức thẩm định hồ sơ, phê duyệt danh sách đối tượng được hưởng và thông báo kết quả đến các cơ sở giáo dục.
- Các cơ sở giáo dục niêm yết công khai danh sách đối tượng được hưởng và thực hiện chi trả ngay sau khi nhận được thông báo kết quả.
b) Đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở dạy nghề (thuộc Nhóm 2) trực thuộc Uỷ ban nhân dân 6 tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Kon Tum:
- Đầu năm học/khoá học cơ sở dạy nghề có học sinh dân tộc rất ít người theo học tổ chức phổ biến, thông báo rộng rãi, hướng dẫn cho học sinh, sinh viên thuộc đối tượng được hưởng chính sách viết, gửi đơn đề nghị hỗ trợ học tập. 
Học sinh, sinh viên khi đến nộp đơn tại cơ sở dạy nghề phải xuất trình bản gốc và 01 bản sao các loại giấy tờ quy định về hồ sơ xét cấp tại Khoản 1 Điều này. Người nhận hồ sơ đối chiếu bản sao với bản gốc, ký xác nhận tính xác thực của bản sao và ghi rõ họ tên vào bản sao để đưa vào hồ sơ.
Trong vòng 45 ngày, kể từ ngày khai giảng năm học/khoá học, tất cả cơ sở dạy nghề đóng trên địa bàn huyện lập danh sách học sinh, sinh viên được đề nghị cấp tiền hỗ trợ học tập, kèm hồ sơ xét cấp, gửi đến phòng lao động - thương binh và xã hội cấp huyện.
- Trong vòng 15 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, phòng lao động - thương binh và xã hội tổ chức thẩm định hồ sơ, phê duyệt, niêm yết công khai danh sách đối tượng được hưởng và thực hiện việc chi trả.
c) Đối với trẻ mẫu giáo 3 - 5 tuổi, học sinh, sinh viên thuộc đối tượng được hưởng ở Nhóm 1 và Nhóm 2 đang học tại các cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề do Trung ương quản lý và các cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề trực thuộc Uỷ ban nhân các tỉnh, thành phố khác với 6 tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Kon Tum:
- Đầu năm học/khoá học, cơ sở giáo dục và cơ sở dạy nghề có trẻ, học sinh, sinh viên dân tộc rất ít người theo học tổ chức phổ biến, thông báo rộng rãi và hướng dẫn cho cha mẹ (người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ em học mẫu giáo hoặc học sinh, sinh viên thuộc đối tượng được hưởng chính sách viết, gửi đơn đề nghị hỗ trợ học tập.
Trong vòng 30 ngày, kể từ ngày khai giảng năm học/khoá học, cha mẹ (người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ em học mẫu giáo hoặc học sinh, sinh viên phải làm đơn đề nghị cấp tiền hỗ trợ học tập, có xác nhận của cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề nơi đang theo học gửi đến phòng lao động - thương binh và xã hội cấp huyện nơi gia đình cư trú, kèm bản sao chứng thực các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này.
Trường hợp tại nơi theo học mà trẻ, học sinh, sinh viên đang được hưởng chính sách cùng tính chất, nhưng có mức ưu đãi thấp hơn chính sách hỗ trợ học tập quy định tại Thông tư này, cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề phải ghi rõ mức được hưởng, thời gian hưởng/năm và xác nhận cụ thể thời gian ngừng cấp để phòng lao động - thương binh và xã hội có cơ sở xét duyệt. 
Trường hợp tại nơi theo học mà trẻ, học sinh, sinh viên đang được hưởng chính sách cùng tính chất, nhưng có mức ưu đãi cao hơn chính sách hỗ trợ học tập quy định tại Thông tư này thì chỉ được tiếp tục hưởng chính sách đang thực hiện tại cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề mà trẻ, học sinh, sinh viên theo học.
- Trong vòng 15 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, phòng lao động - thương binh và xã hội tổ chức thẩm định, phê duyệt, niêm yết công khai danh sách đối tượng được hưởng và thực hiện chi trả.
3. Phương thức chi hỗ trợ:
- Tuỳ theo điều kiện quản lý cụ thể, cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông thoả thuận với ban đại diện cha mẹ học sinh để quyết định phương thức chi trả cho phù hợp (khuyến khích cơ sở giáo dục tổ chức bữa ăn tập trung cho học sinh).
- Phòng lao động - thương binh và xã hội thống nhất với phòng tài chính - kế hoạch cấp huyện để chi trả tiền hỗ trợ học tập trực tiếp cho học sinh, sinh viên hoặc thông qua cha mẹ của trẻ, học sinh, sinh viên.
- Tuỳ vào tình hình thực tế của từng địa phương, việc chi trả chi phí hỗ trợ học tập có thể thực hiện theo tháng, quý hoặc theo kỳ học, khoá học.
Điều 5. Về nguồn kinh phí
1. Nguồn kinh phí: kinh phí chi trả chính sách đối với trẻ mẫu giáo 3 - 5 tuổi, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người theo quy định tại Thông tư này được cân đối trong dự toán chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo hàng năm của địa phương.
2. Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% kinh phí cho các địa phương để thực hiện chính sách hỗ trợ học tập theo quy định tại Thông tư này. 
Điều 6. Về lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí
1. Việc lập và phân bổ dự toán kinh phí thực hiện chính sách chi hỗ trợ học tập cho trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên được thực hiện đồng thời với thời điểm lập,  phân bổ dự toán ngân sách nhà nước hàng năm tại địa phương. Dự toán phải ghi rõ kinh phí thực hiện chính sách cấp hỗ trợ học tập cho trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người và số lượng đối tượng được hưởng.
Kinh phí hỗ trợ học tập cho trẻ mẫu giáo 3 - 5 tuổi và học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục do tỉnh quản lý cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm phân bổ cho các cơ sở giáo dục.
Kinh phí hỗ trợ học tập cho trẻ, học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục ngoài tỉnh, do Trung ương quản lý và tất cả các cơ sở dạy nghề cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm phân bổ qua phòng lao động - thương binh và xã hội cấp huyện nơi gia đình trẻ, học sinh, sinh viên cư trú.
2. Các cơ quan được phân bổ ngân sách theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư này chịu trách nhiệm lập dự toán, thực hiện việc quản lý, chi trả kinh phí hỗ trợ học tập đúng đối tượng và thanh quyết toán kinh phí với ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật.
Quy trình, trách nhiệm và thẩm quyền trong lập dự toán, chấp hành và quyết toán kinh phí hỗ trợ học tập thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và theo phân cấp quản lý hiện hành.
3. Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm bảo đảm kinh phí hỗ trợ, hướng dẫn quản lý và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện.
4. Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát, cấp phát, thanh toán kinh phí hỗ trợ theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước; các chế độ chi tiêu và các quy định tại Thông tư này.
5. Hàng năm ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước, Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, số lượng đối tượng được hưởng xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ học tập, tổng hợp chung trong dự toán chi ngân sách nhà nước của địa phương gửi Bộ Tài chính cùng thời gian báo cáo dự toán ngân sách Nhà nước năm kế hoạch; đồng thời, gửi báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để phối hợp quản lý.
Điều 7. Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 3 năm 2012.
2. Thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ về học tập cho các đối tượng quy định tại Thông tư này được tính từ ngày 01/9/2011 đến 31/12/2015.
3. Các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về học tập theo quy định của Thông tư này mà cùng một lúc được hưởng nhiều chính sách cùng tính chất thì chỉ được hưởng chính sách có chế độ ưu đãi cao nhất.
4. Trường hợp nếu các văn bản dẫn chiếu để áp dụng trong Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hay thay thế bằng văn bản mới thì sẽ được dẫn chiếu áp dụng theo các văn bản mới đó.

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG
BINH VÀ XÃ HỘI
THỨ TRƯỞNG





Nguyễn Ngọc Phi

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG






Nguyễn Thị Minh
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THỨ TRƯỞNG






Nguyễn Thị Nghĩa
Nơi nhận:
- Văn phòng Chủ tịch nước;
-    Văn phòng Quốc hội và các UB của Quốc hội;
-    Ban Tuyên giáo Trung ương;
-    Văn phòng Chính phủ;
-    Toà án nhân dân tối cao;
-    Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
-    Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng;
-    Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
-    Kiểm toán nhà nước;
-    UBTW Mặt trận tổ quốc Việt Nam;
-    Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
-    Các Vụ, Cục, Thanh tra, Văn phòng thuộc Bộ GD&ĐT,
   Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính;
-    Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp);
-    HĐND, UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc TW;
-    Các sở GD&ĐT, sở tài chính; sở LĐ-TB&XH;
-    Công báo;
-    Website Chính phủ;
-    Website các Bộ: GD&ĐT; Tài chính; LĐ-TB&XH;
-  Lưu: VT, Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH, Bộ TC.


Phụ lục I
(Kèm theo Thông tư liên tịch  số      /2011/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB&XH  ngày       tháng         năm 2011 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội )
---------------------------------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------------------


ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỖ TRỢ HỌC TẬP
(Dùng cho cha mẹ trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông)

Kính gửi: (tên cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông)

Họ và tên:                                                                    
Cư trú tại:
Là Cha/mẹ (hoặc người giám hộ, nhận nuôi) của em:                             
Sinh ngày:
Dân tộc:
Hiện đang học tại lớp:                          
Trường:                                                           
Thuộc đối tượng được hưởng chi phí hỗ trợ học tập theo quy định tại Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Tôi làm đơn này đề nghị các cấp quản lý xem xét, giải quyết cấp tiền hỗ trợ học tập theo quy định và chế độ hiện hành.
                                                                                                          ..., ngày      tháng     năm 
Người làm đơn
                                                                                           (Ký tên và ghi rõ họ tên)




 
Xác nhận của cơ sở giáo dục
Cơ sở giáo dục:  ................................................................................................
Xác nhận trẻ/học sinh:  .....................................................................................
Hiện là học sinh lớp:…………………………………………………………..
Các chi tiết nêu trong đơn là phù hợp với hồ sơ mà cơ sở giáo dục đang quản lý.
Kỷ luật: ................................................................(ghi rõ mức độ kỷ luật, nếu có).
Đang hưởng chính sách cùng tính chất tại trường (nếu có), số tiền: ...............đồng/tháng và được hưởng….. tháng/năm.  
Đơn vị chúng tôi sẽ ngừng cấp chính sách cho học sinh/sinh viên trên tại trường từ tháng…năm…(1); đề nghị cơ quan quản lý cấp trên xem xét, phê duyệt tiền hỗ trợ học tập cho trẻ/học sinh nói trên theo quy định và chế độ hiện hành.
                                                                             
 ........., ngày ..... tháng  .....  năm ...........
                                                                                              Thủ trưởng đơn vị
                                                                                                              (Ký tên, đóng dấu)

(1) Chỉ áp dụng trong trường hợp chính sách đang hưởng tại nơi học thấp hơn chính sách hỗ trợ học tập quy định tại Thông tư này; trường hợp chính sách đang hưởng cao hơn thì tiếp tục hưởng tại nơi đang theo học, không gửi đơn đề nghị nữa.



Phụ lục II
(Kèm theo Thông tư liên tịch  số      /2011/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB&XH  ngày       tháng         năm 2011 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội)
----------------------------------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------

ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỖ TRỢ HỌC TẬP
(Dùng cho học sinh, sinh viên học tại các trường, khoa dự bị đại học, các trường đại học,
 cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề)

       Kính gửi: Phòng lao động - thương binh và xã hội (cấp huyện)

Họ và tên:
Ngày, tháng, năm sinh:
Dân tộc:
Ngành học:                                                       Mã số học sinh/sinh viên:
Họ tên cha/mẹ học sinh, sinh viên:
Nơi cư trú của gia đình:
Thuộc đối tượng được hưởng chi phí hỗ trợ học tập theo QĐ số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010- 2015.
Tôi làm đơn này đề nghị các cấp quản lý xem xét, giải quyết cấp tiền hỗ trợ học tập theo quy định và chế độ hiện hành.
                                                                          …, ngày       tháng       năm
                                                                                         Người làm đơn
                                                                                (Ký tên và ghi rõ họ tên)



 
Xác nhận của cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề

Cơ sở giáo dục/dạy nghề:  ......................................................................................
Xác nhận anh/chị:  .................................................
Hiện là học sinh, sinh viên năm thứ ..... Học kỳ: ..............Năm học.......lớp ............. khoa ......... khóa học.......... thời gian khóa học..........(năm) hệ đào tạo .........................
Các chi tiết nêu trong đơn là phù hợp với hồ sơ mà cơ sở giáo dục/dạy nghề đang quản lý.
Kỷ luật: ..............................................(ghi rõ mức độ kỷ luật, nếu có).
Đang hưởng chính sách cùng tính chất tại trường (nếu có), số tiền: ...............đồng/tháng và được hưởng….. tháng/năm.  
Đơn vị chúng tôi sẽ ngừng cấp chính sách cho học sinh/sinh viên trên tại trường từ tháng…năm…(1); đề nghị phòng lao động - thương binh và xã hội xem xét, giải quyết tiền hỗ trợ học tập cho anh/chị  nói trên theo quy định và chế độ hiện hành.
                                                                              
                                                                               ........., ngày ..... tháng  .....  năm ...........
                                                                                            Thủ trưởng đơn vị
                                                                                            (Ký tên, đóng dấu)

(1) Chỉ áp dụng trong trường hợp chính sách đang hưởng tại nơi học thấp hơn chính sách hỗ trợ học tập quy định tại Thông tư này; trường hợp chính sách đang hưởng cao hơn thì tiếp tục hưởng tại nơi đang theo học, không gửi đơn đề nghị nữa.


Tải thông tư dạng word tại đây – Dung lượng: 84 KB
Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đã có rất nhiều bạn yêu mến. Nếu bạn cũng yêu mến hãy +1 để ủng hộ Lê Minh Trí

  • BÀI MỚI
  • BÌNH LUẬN

LIÊN KẾT WEBSITE

  • Bảo Hiểm Xã Hội TP.HCM
  • Bảo hiểm xã hội Việt Nam
  • Bộ Tài Chính
  • Chánh Đạt Online
  • Chùa Ngưỡng Quan
  • Chơn Ngọc
  • Cổng TTĐT Chính Phủ
  • Cục Thuế TP.HCM
  • Diễn Đàn Giải Pháp Excel
    Xác định các id dưới 1 khoảng cách nhất định
    9 năm trước
  • Ho Chi Minh CityWeb
  • Hải Quan Việt Nam
  • Sở Lao Động TP.HCM
  • Trang chủ Webketoan.vn
  • Tổng Cục Thuế
  • Ẩm Thực Chay
    Vò viên chay sốt cà - Chùa Giác Lâm
    8 năm trước

ĐƯỢC QUAN TÂM

  • Phụ lục 3 - CÁC MẪU HÓA ĐƠN, BẢNG BIỂU (Ban hành kèm theo Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của BTC)
  • TT 16/2013/TT-BTC - 08/02/2013 Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu NSNN
  • Tổng hợp các văn bản V/v cho phép viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn được cơ quan thuế chấp thuận
  • NGHỊ ĐỊNH 66/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 06 năm 2013 của Chính Phủ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
  • Ebook - Nghiệp vụ thuế Phiên bản 2012

THỜI GIAN LÀM VIỆC

KHÁCH VIẾNG THĂM

Sparkline
Bản Quyền 2010-2011 @ Tri Thức Kế Toán . All rights reserved.
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ Lê Minh Trí. leminhtri1956@yahoo.com
Designed by Thích Trí Giải | Based on SimplexDesign