• TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN LẠC
  • MỤC LỤC
  • SƠ ĐỒ BLOG
  • TỦ SÁCH
  • ĐĂNG NHẬP
  • ĐỌC TIN RSS
  • TRANG CHỦ
  • Tin Tức
    • Thời Sự
    • Xã Hội
    • Phật Giáo
    • Khác
  • BHXH - BHYT
    • Luật
    • Nghị định
    • Thông tư
    • Quyết định
    • Công văn
    • Đề tài
  • Lao Động
    • Luật
    • Nghị Định
    • Thông Tư
    • Quyết Định
    • Công Văn
    • Đề Tài
  • Kế Toán - Kiểm Toán
    • Luật
    • Nghị Định
    • Thông Tư
    • Quyết Định
    • Chuẩn Mực KT-KT
    • Công Văn
    • Đề Tài
  • VĂN BẢN THUẾ
    • Luật Quản Lý Thuế
    • Thuế GTGT
    • Thuế TNDN
    • Thuế TNCN
    • Thuế XNK
    • Thuế TTĐB
    • Các Loại Thuế Khác
    • Các Phần Mềm Kê Khai Thuế
    • Đề Tài
  • TIN HỌC
    • Văn Phòng
    • Ứng Dụng
    • Multimedia
    • Kiến Trúc
  • Văn Hóa
    • Việt Nam
    • Thế Giới
    • Gia Đình
    • Ẩm Thực
    • Thời Trang
  • Chia Sẻ
    • Hình Ảnh
    • cá nhân
    • Bạn Bè
    • gia đình
    • Người Thân
  • Thư Giãn
    • Âm Nhạc
    • Phim Ảnh
    • Thể Thao
    • Hài Hước
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuế GTGT. Hiển thị tất cả bài đăng
Ảnh mang tính minh họa


Hướng mở cho doanh nghiệp, cho phép hoàn thuế các lô hàng xuất khẩu đã lỡ phát hành hóa đơn GTGT, đó là nội dung của ☛ ☛ ☛ Công văn số 6421/BTC-TCT ngày 22/5/2013 -  Về việc xử lý hóa đơn Giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu ra nước ngoài ☚ ☚ ☚ được phúc đáp, hướng dẫn của Bộ Tài Chính gửi đến Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương


Văn bản hướng dẫn xử lý trường hợp phát hành hóa đơn GTGT cho hàng xuất khẩu thay vì phải phát hành Hóa đơn xuất khẩu theo đúng quy định tại Thông tư 153/2010/TT-BTC.

Theo đó, nếu các hóa đơn này chưa được thanh tra, kiểm tra thuế thì doanh nghiệp được phép làm thủ tục hủy hóa đơn GTGT đã xuất, đồng thời phát hành lại Hóa đơn xuất khẩu và điều chỉnh kê khai thuế.

Nếu đã thanh tra, kiểm tra thuế thì cơ quan Thuế sẽ xem xét cho phép hoàn thuế với hóa đơn GTGT và không cần phát hành hóa đơn xuất khẩu thay thế. Tuy nhiên hóa đơn GTGT cho lô hàng xuất khẩu trong trường hợp này phải đảm bảo còn lưu tại quyển

Kể từ thời điểm ban hành Công văn này, Bộ Tài chính sẽ không chấp nhận bất kỳ trường hợp phát hành hóa đơn GTGT cho hàng xuất khẩu với bất kỳ lý do khách quan nào

Nôi dung đầy đủ của văn bản này:

BỘ TÀI CHÍNH
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 6421/BTC-TCT V/v xử lý hóa đơn GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu ra nước ngoài
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2013


Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Bộ Tài chính nhận được công văn của một số Cục Thuế và doanh nghiệp hỏi về việc hoàn thuế trong trường hợp sử dụng hóa đơn GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định tại Chương 5 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn;
Căn cứ hướng dẫn tại Tiết c, Điểm 1.3 Mục II Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT;
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 16 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT;
Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 3, Khoản 1(k) Điều 4, Điều 18 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên:
Trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ nhưng chưa nắm bắt kịp thời thay đổi quy định tại Thông tư số 153/2010/TT-BTC nên vẫn xuất hóa đơn GTGT thay vì phải xuất hóa đơn xuất khẩu thì:
+ Nếu cơ quan thuế chưa công bố quyết định thanh tra, kiểm tra thuế tại doanh nghiệp thì: doanh nghiệp thực hiện hủy hóa đơn GTGT đã xuất, đồng thời lập lại hóa đơn xuất khẩu và thực hiện kê khai điều chỉnh bổ sung theo quy định.
+ Nếu cơ quan thuế đã công bố quyết định thanh tra, kiểm tra thuế tại doanh nghiệp thì đề nghị Cục Thuế kiểm tra cụ thể nếu thực tế hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đã thực xuất khẩu, hồ sơ của doanh nghiệp đáp ứng được đầy đủ các điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào đối với hàng xuất khẩu theo quy định; riêng hóa đơn doanh nghiệp vẫn xuất hóa đơn GTGT thay vì phải xuất hóa đơn xuất khẩu, hóa đơn vẫn còn lưu tại quyển. Đồng thời, tại kỳ hoàn thuế doanh nghiệp đã thực hiện hạch toán kế toán doanh thu, chi phí của hàng xuất khẩu trên sổ kế toán, có hợp đồng bán hàng xuất khẩu, tờ khai hải quan, INVOICE, chứng từ thanh toán qua Ngân hàng theo quy định thì xem xét để Công ty được kê khai, khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào tương ứng của các lô hàng xuất khẩu.
Kể từ thời điểm ban hành công văn này, các đơn vị phải thực hiện sử dụng hóa đơn theo đúng quy định. Đề nghị các Cục Thuế tuyên truyền hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện xuất hóa đơn theo đúng quy định.
Bộ Tài chính thông báo để Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được biết và hướng dẫn đơn vị thực hiện./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ: PC, CST (BTC);
- Vụ PC2b, CS (TCT);
- Lưu: VT, TCT (VT, KK2b).
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Đỗ Hoàng Anh Tuấn







BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 1457/TCT-CS V/v khấu trừ thuế khi tìm lại được hóa đơn bị mất.
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2013


Kính gửi:
- Cục Thuế tỉnh Nghệ An;
- Công ty TNHH Tân Xuân.
(Đ/c: Khối 2, phường Nghi Xuân, Tx Cửa Lò, tỉnh Nghệ An)

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 01/TT-CT ngày 03/04/2013 của Công ty TNHH Tân Xuân về việc đề nghị khấu trừ thuế GTGT đối với hóa đơn bị mất sau đó lại tìm thấy. Tại công văn, Công ty TNHH Tân Xuân trình bày:
Ngày 01/08/2011 Công ty TNHH Tân Xuân mua dầu Diezel của Công ty CP xăng dầu dầu khí Vũng Áng và được xuất hóa đơn GTGT mẫu số 01GTKT4/002; ký hiệu AX/11P; số 0003088. Công ty TNHH Tân Xuân đã thanh toán tiền cho Công ty CP xăng dầu dầu khí Vũng Áng theo hình thức chuyển khoản. Ngày 11/08/2011 kế toán của Công ty TNHH Tân Xuân là bà Trần Thị Năng bị mất cắp một số giấy tờ, trong đó có hóa đơn GTGT mẫu số 01GTKT4/002; ký hiệu AX/11P; số 0003088 nêu trên (có xác nhận của Công an phường Nghi Tân). Công ty cũng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm vật rơi. Ngày 20/08/2011 Công ty TNHH Tân Xuân có công văn số 30/2011/TX-CV báo cáo Chi cục Thuế Thị xã Cửa Lò về việc mất hóa đơn nêu trên. Ngày 20/03/2012 Công ty TNHH Tân Xuân lại nhận được hóa đơn GTGT mẫu số 01GTKT4/002; ký hiệu AX/11P; số 0003088 do ông Mai Xuân Thiện trả lại. Ngày 20/03/2012 Công ty TNHH Tân Xuân đã kê khai bổ sung hóa đơn bị thất lạc vào Tờ khai thuế GTGT tháng 02/2012.
Về việc này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Điểm 1.3 Mục III Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định thuế GTGT quy định: "Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào quy định như sau:
a) Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT."
Căn cứ vào quy định trên: đề nghị Cục Thuế tỉnh Nghệ An xem xét nếu Công ty TNHH Tân Xuân bị mất hóa đơn GTGT mua hàng hóa đầu vào (nguyên nhân khách quan), Công ty đã làm các thủ tục: trình báo mất với cơ quan công an, cơ quan thuế, đăng trên phương tiện thông tin đại chúng, sau đó tìm lại được hóa đơn đã báo mất (do cá nhân nhặt được trả lại) thì hướng dẫn Công ty kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào đối với hóa đơn này nếu đủ các điều kiện được trừ theo quy định.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Nghệ An, Công ty TNHH Tân Xuân được biết./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC (BTC);
- Vụ PC (TCT);
- Lưu: VT, CS (2b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn


Ảnh mang tính minh hõa


BỘ TÀI CHÍNH
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 65/2013/TT-BTC
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2013

THÔNG TƯ
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG THÔNG TƯ SỐ 06/2012/TT-BTC NGÀY 11/01/2012 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2008/NĐ-CP NGÀY 08/12/2008 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 121/2011/NĐ-CP NGÀY 27/12/2011 CỦA CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;
Căn cứ Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế;
Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng như sau:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC:
1. Sửa đổi, bổ sung điểm a Khoản 8 Điều 4 Chương I như sau:
“a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức:
- Cho vay;
- Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác;
- Bảo lãnh ngân hàng;
- Cho thuê tài chính;
- Phát hành thẻ tín dụng;
- Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
- Các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
Tài sản sử dụng để đảm bảo tiền vay của người nộp thuế GTGT hoặc đã được chuyển quyền sở hữu sang bên cho vay khi bán phải chịu thuế GTGT, trừ trường hợp là hàng hoá không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 4 Thông tư này.
Ví dụ 2: Trường hợp Công ty TNHH A thế chấp dây chuyền, máy móc thiết bị để vay vốn tại Ngân hàng B. Hết thời hạn vay theo hợp đồng tín dụng, Công ty A không có khả năng trả nợ, Ngân hàng B bán tài sản đảm bảo tiền vay (kể cả trường hợp đã chuyển quyền hoặc chưa chuyển quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng B) để thu hồi nợ thì tài sản này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.”
2. Sửa đổi bổ sung điểm a Khoản 11 Điều 4 Thông tư số 06/2012/TT-BTC như sau:
“a) Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư cung cấp cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổ chức, cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp) bao gồm các hoạt động thu, dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác.
Trường hợp cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ như dịch vụ lau dọn văn phòng, lau dọn nhà cửa thì dịch vụ này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.
Ví dụ 3: Công ty TNHH B cung cấp dịch vụ lau dọn văn phòng cho đơn vị C, cung cấp dịch vụ lau chùi hành lang, cầu thang cho chung cư H thì các dịch vụ này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.”
3. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 5 Chương I như sau:
“2. Các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.
Cơ sở kinh doanh khi nhận khoản tiền thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác thì lập chứng từ thu theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền, căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền.
Trường hợp bồi thường bằng hàng hoá, dịch vụ thì cơ sở bồi thường phải lập hoá đơn như đối với bán hàng hoá, dịch vụ; cơ sở nhận bồi thường kê khai, khấu trừ theo quy định.
Ví dụ 10: Công ty cổ phần VC ký hợp đồng cho Doanh nghiệp T vay tiền trong thời hạn 6 tháng và được nhận khoản tiền lãi. Khoản lãi do Công ty cổ phần VC nhận được thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Ví dụ 11: Công ty TNHH P&C nhận được khoản tiền lãi từ việc mua trái phiếu và tiền cổ tức từ việc mua cổ phiếu của các doanh nghiệp khác. Công ty TNHH P&C không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền lãi từ việc mua trái phiếu và tiền cổ tức nhận được.
Ví dụ 12: Doanh nghiệp A nhận được khoản bồi thường thiệt hại do bị huỷ hợp đồng từ doanh nghiệp B là 50 triệu đồng thì doanh nghiệp A lập chứng từ thu và không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền trên.
Ví dụ 13: Doanh nghiệp X mua hàng của doanh nghiệp Y, doanh nghiệp X có ứng trước cho doanh nghiệp Y một khoản tiền và được doanh nghiệp Y trả lãi cho khoản tiền ứng trước đó thì doanh nghiệp X không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản lãi nhận được.
Ví dụ 14: Doanh nghiệp X bán hàng cho doanh nghiệp Z, tổng giá thanh toán là 440 triệu đồng. Theo hợp đồng, doanh nghiệp Z thanh toán trả chậm trong vòng 3 tháng, lãi suất trả chậm là 1%/tháng/tổng giá thanh toán của hợp đồng. Sau 3 tháng, doanh nghiệp X nhận được từ doanh nghiệp Z tổng giá trị thanh toán của hợp đồng là 440 triệu đồng và số tiền lãi chậm trả là 13,2 triệu đồng (440 triệu đồng x 1% x 3 tháng) thì doanh nghiệp X không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền 13,2 triệu đồng này.”
4. Sửa đổi, bổ sung điểm a.3 Khoản 9 Điều 7 Mục 1 Chương II như sau
“a.3) Trường hợp thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, để cho thuê giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước (không bao gồm tiền thuê đất được miễn, giảm) và chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định pháp luật.
Ví dụ: Công ty cổ phần VN-KR có ngành nghề kinh doanh đầu tư, kinh doanh hạ tầng sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Công ty được Nhà nước cho thuê đất, thu tiền thuê đất 1 lần để đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp để thực hiện dự án; thời hạn thuê đất là 50 năm. Diện tích đất thuê là 300.000 m2, giá thu tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê là 82.000đ/ m2. Tổng số tiền thuê đất phải nộp là 24,6 tỷ đồng. Công ty không được miễn, giảm tiền thuê đất. Sau khi đầu tư xây dựng hạ tầng, Công ty ký hợp đồng cho nhà đầu tư thuê lại với thời gian thuê là 49 năm, diện tích đất cho thuê là 16.500 m2 , đơn giá cho thuê tại thời điểm ký hợp đồng là 450.000đ/m2 cho cả thời gian thuê, giá đã bao gồm thuế GTGT).
Giá đã có thuế GTGT đối với tiền thu từ cho thuê hạ tầng trong cả thời gian cho thuê (49 năm) đối với Công ty cổ phần VN-KR cho nhà đầu tư thuê được xác định là:
16.500 m2 x (450.000 – 82.000) = 6,072 tỷ đồng.
Giá chưa có thuế GTGT được xác định là: 6,072 tỷ: (1+ 0,1) = 5.52 tỷ.
Thuế GTGT là: 5,52 tỷ x 10% = 0,552 tỷ.”
5. Bổ sung điểm a.6 tại điểm a Khoản 9 Điều 7 Mục 1 Chương II như sau:
“a.6) Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bất động sản có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của người dân theo hợp đồng chuyển nhượng, sau đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng sang thành đất ở để xây dựng chung cư, nhà ở...để bán thì giá đất được trừ khi tính thuế GTGT là giá đất nông nghiệp nhận chuyển nhượng từ người dân và các chi phí khác bao gồm: khoản tiền sử dụng đất nộp NSNN để chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở, thuế thu nhập cá nhân nộp thay người dân có đất chuyển nhượng (nếu các bên có thỏa thuận doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nộp thay)”.
6. Bổ sung tại cuối điểm b Khoản 9 Điều 7 như sau:
“Trường hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng có thu tiền theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng thì giá đất được trừ được tính theo tỷ lệ (%) của số tiền thu theo tiến độ thực hiện dự án trên tổng số tiền theo hợp đồng hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng với giá đất được trừ theo quy định.”
7. Sửa đổi Khoản 3 Điều 9 Mục 1 Chương II như sau:
“3. Các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% gồm:
- Tái bảo hiểm ra nước ngoài; chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; chuyển nhượng vốn, cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông chiều đi ra nước ngoài (bao gồm cả dịch vụ bưu chính viễn thông cung cấp cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; cung cấp thẻ cào điện thoại di động đã có mã số, mệnh giá đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào khu phi thuế quan); sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng ký kinh doanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
- Xăng, dầu bán cho xe ô tô của cơ sở kinh doanh trong khu phi thuế quan mua tại nội địa;
- Xe ô tô bán cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan.
- Các dịch vụ do cơ sở kinh doanh cung cấp cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan bao gồm: cho thuê nhà, hội trường, văn phòng, khách sạn, kho bãi, dịch vụ vận chuyển đưa đón người lao động; dịch vụ ăn uống (trừ dịch vụ cung cấp suất ăn công nghiệp, dịch vụ ăn uống trong khu phi thuế quan).
- Các dịch vụ sau cung ứng tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không được áp dụng thuế suất 0% gồm:
+ Thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, giải trí, hội nghị, khách sạn, đào tạo, quảng cáo, du lịch lữ hành;
+ Dịch vụ thanh toán qua mạng.
Các trường hợp không áp dụng thuế suất 0% quy định tại khoản này áp dụng theo thuế suất tương ứng của hàng hoá, dịch vụ khi bán ra, cung ứng trong nước.”
8. Sửa đổi Khoản 4 Điều 14 Mục 1 Chương III như sau:
“4. Cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thuỷ, hải sản có tổ chức sản xuất khép kín, hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh tập trung có sử dụng sản phẩm ở các khâu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh ở tất cả các khâu đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất, chế biến. Trường hợp cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư để tiếp tục sản xuất, chế biến và có văn bản cam kết tiếp tục sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT thì được kê khai, khấu trừ thuế GTGT ngay từ giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản. Đối với thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB, doanh nghiệp đã kê khai, khấu trừ, hoàn thuế nhưng sau đó xác định không đủ điều kiện, khấu trừ, hoàn thuế thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh nộp lại tiền thuế GTGT đã khấu trừ, hoàn thuế. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện điều chỉnh, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế phát hiện ra thì cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã báo cáo, cam kết giải trình với cơ quan thuế liên quan đến việc khấu trừ, hoàn thuế.
Trường hợp cơ sở có bán hàng hóa là sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chưa qua chế biến hoặc mới qua sơ chế thông thường thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.
Ví dụ 42 : Doanh nghiệp A có dự án đầu tư vườn cây cao su, có phát sinh số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ ở khâu đầu tư XDCB, doanh nghiệp chưa có sản phẩm làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm cả sản phẩm chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) nhưng có dự án xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su (thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) và cam kết sản phẩm trồng trọt tiếp tục chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT thì Công ty được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp doanh nghiệp bán mủ cao su thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng một phần mủ cao su khai thác vào sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT, một phần bán ra thì thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
- Thuế GTGT đầu vào của TSCĐ (vườn cây cao su, nhà máy chế biến…): doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ (bao gồm cả thuế GTGT phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB).
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ: thực hiện khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra.”
9. Sửa đổi điểm c Khoản 2 Điều 15 Mục I Chương III như sau:
“c) Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp khi điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh đồng thời hạch toán tăng chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp khoản chi phí tương ứng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ đã điều chỉnh giảm thì sau khi có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT và thực hiện điều chỉnh giảm chi phí tính thuế TNDN tương ứng. Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán tăng chi phí tính thuế TNDN khoản chi phí tương ứng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ đã điều chỉnh giảm thì không phải điều chỉnh lại chi phí tính thuế TNDN.
Trường hợp đã quá hạn thanh toán chậm trả theo quy định trong hợp đồng, cơ sở kinh doanh không thực hiện điều chỉnh giảm theo quy định nhưng trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở, cơ sở kinh doanh có đầy đủ chứng từ chứng minh đã thanh toán qua ngân hàng thì nếu việc không điều chỉnh giảm không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị xử phạt vi phạm về thủ tục thuế, nếu việc không điều chỉnh giảm dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Trường hợp cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại trụ sở và có quyết định xử lý không chấp nhận cho khấu trừ thuế đối với các hóa đơn GTGT không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, sau khi có quyết định xử lý của cơ quan thuế cơ sở kinh doanh mới có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì:
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT.
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã không điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung nếu có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ tháng có Quyết định xử lý của cơ quan thuế.
Ví dụ 49: Tháng 11/2012, cơ quan thuế ban hành Quyết định kiểm tra về thuế GTGT tại Công ty TNHH Z, thời kỳ kiểm tra là năm 2011 và 5 tháng của năm 2012. Tại thời điểm kiểm tra, Công ty TNHH Z không xuất trình được chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với một số hợp đồng thanh toán trả chậm đã đến thời hạn trả trong năm 2011 và trong 5 tháng năm 2012, theo đó cơ quan thuế không chấp thuận Công ty TNHH Z được kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với các hóa đơn không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Tuy nhiên trong tháng 11/2012 và tháng 12/2012 Công ty TNHH Z mới có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với các hóa đơn đã bị cơ quan thuế kiểm tra không chấp thuận cho khấu trừ thuế thì Công ty TNHH Z vẫn được kê khai bổ sung khấu trừ thuế GTGT của hóa đơn nêu trên có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trên Tờ khai thuế GTGT của tháng 11, 12/2012.
Ví dụ 49a:
Tại Công ty TNHH Super có tình hình như sau:
Tháng 2, 3 năm 2012 Công ty TNHH Super có hóa đơn GTGT mua hàng hóa theo hợp đồng thanh toán trả chậm, thời hạn trả là ngày 31/10/2012. Căn cứ hóa đơn GTGT do người bán cung cấp, Công ty TNHH Super đã kê khai khấu trừ thuế GTGT trên Tờ khai thuế GTGT tháng 2, tháng 3 năm 2012. Đến thời hạn trả (ngày 31/10/2012) do có khó khăn về tài chính nên Công ty TNHH Z không có khả năng trả. Công ty TNHH Super đã tự kê khai điều chỉnh giảm trên Tờ khai thuế GTGT tháng 10 năm 2012, đồng thời kế toán đã khai tăng chi phí tính thuế TNDN khoản chi phí tương ứng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ điều chỉnh giảm.
Tháng 4 năm 2013 cơ quan thuế ban hành Quyết định kiểm tra về thuế GTGT tại Công ty TNHH Super. Đối với hóa đơn GTGT mua hàng trong tháng 2, tháng 3 năm 2012 theo hợp đồng trả chậm với thời hạn thanh toán là ngày 31/10/2012, do Công ty đã tự điều chỉnh giảm số thuế đã kê khai khấu trừ trên Tờ khai thuế GTGT tháng 10 năm 2012 nên Đoàn kiểm tra ghi nhận số liệu đã điều chỉnh giảm.
Tháng 5 năm 2013 cơ quan thuế ban hành Quyết định xử lý về thuế GTGT đối với Công ty TNHH Super (trong Quyết định không có nội dung xử lý về thuế GTGT của các hóa đơn GTGT mua hàng trong tháng 2, tháng 3 năm 2012 theo hợp đồng trả chậm với thời hạn thanh toán là ngày 31/10/2012 do Đoàn kiểm tra đã ghi nhận số liệu kế toán đã điều chỉnh giảm).
Tháng 12 năm 2013 Công ty TNHH Super có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hợp đồng thanh toán trả chậm của hóa đơn GTGT mua hàng của tháng 2, 3 năm 2012 (thời hạn thanh toán là ngày 31/10/2012) thì Công ty TNHH Super được khai điều chỉnh bổ sung thuế GTGT. Đồng thời Công ty TNHH Super thực hiện điều chỉnh giảm chi phí tính thuế TNDN tương ứng.
Ví dụ 49b:
Tại Công ty TNHH YKK có tình hình như sau:
- Tháng 3, 4 năm 2012 Công ty TNHH YKK có hóa đơn GTGT mua hàng hóa theo hợp đồng thanh toán trả chậm, thời hạn trả là trong tháng 9 năm 2012. Căn cứ hóa đơn GTGT do người bán cung cấp, kế toán Công ty TNHH Z đã kê khai khấu trừ thuế GTGT trên Tờ khai thuế tháng 3, tháng 4 năm 2012. Đến thời hạn trả trong tháng 9 năm 2012 Công ty TNHH YKK không có khả năng thanh toán, tuy nhiên Công ty đã không kê khai điều chỉnh giảm.
Tháng 4 năm 2013, cơ quan thuế ban hành Quyết định kiểm tra về thuế GTGT tại Công ty TNHH YKK, thời kỳ kiểm tra là năm 2012. Tại thời điểm kiểm tra, Công ty TNHH YKK không xuất trình được chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hóa đơn GTGT mua hàng hóa theo hợp đồng thanh toán trả chậm, thời hạn trả là trong tháng 9 năm 2012. Đoàn kiểm tra xử lý không chấp thuận cho Công ty TNHH YKK được kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với các hóa đơn không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Tháng 5 năm 2013 cơ quan thuế đã ban hành Quyết định xử lý truy thu thuế GTGT tại Công ty TNHH YKK.
Trong tháng 10 năm 2013 Công ty TNHH YKK có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hợp đồng thanh toán trả chậm của hóa đơn GTGT mua hàng của tháng 3 năm 2012 (thời hạn trả là trong tháng 9 năm 2012) thì Công ty TNHH YKK được khai điều chỉnh bổ sung thuế GTGT do thời điểm có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ khi cơ quan thuế ban hành Quyết định xử lý truy thu thuế.
Tháng 12 năm 2013 Công ty TNHH YKK có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hợp đồng thanh toán trả chậm của hóa đơn GTGT mua hàng của tháng 4 năm 2012 (thời hạn thanh toán trong tháng 9 năm 2012) thì Công ty TNHH YKK không được khai điều chỉnh bổ sung thuế GTGT do thời điểm có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đã quá thời hạn 6 tháng kể từ khi cơ quan thuế ban hành Quyết định xử lý truy thu thuế.
Ví dụ 49c:
Tháng 9 năm 2012 Cục thuế tỉnh B ban hành Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần PNG qua kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế, tại Quyết định xử lý có nội dung thu hồi tiền hoàn thuế GTGT là 460.000.000 đồng là khoản tiền thuế GTGT khấu trừ mua hàng trên 20 triệu đồng đến thời điểm kiểm tra chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, quá hạn theo hợp đồng của bộ hồ sơ đã được hoàn thuế của kỳ hoàn từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012. Công ty cổ phần PNG đã chấp hành nộp đầy đủ vào NSNN số tiền thuế truy thu.
Trong tháng 10 năm 2012 Công ty cổ phần PNG có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hóa đơn mua hàng hóa theo hợp đồng quá hạn tương ứng số thuế GTGT 460.000.000 đồng đã bị cơ quan thuế thu hồi thì Công ty cổ phần PNG được kê khai bổ sung vào Tờ khai thuế GTGT của tháng 10 năm 2012”.
10. Sửa đổi Khoản 3, Khoản 4 Điều 18 Mục 2 Chương III như sau:
“3. Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh phải kê khai bù trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư mới cùng với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện.
Sau khi bù trừ nếu có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ hết từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Trường hợp số thuế GTGT đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư dưới 200 triệu đồng và 3 tháng chưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này.
Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với trường hợp này. Trường hợp có ban quản lý dự án thì ban quản lý dự án thực hiện đăng ký, kê khai lập hồ sơ hoàn thuế riêng với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký thuế (trừ ban quản lý dự án cùng địa bàn tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính do doanh nghiệp trụ sở chính lập hồ sơ hoàn thuế GTGT). Khi dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp mới đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế GTGT phát sinh, số thuế GTGT đã hoàn, số thuế GTGT chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế GTGT theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
4. Cơ sở kinh doanh trong tháng vừa có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, nếu có số thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên (thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng bao gồm: thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động xuất khẩu, phục vụ hoạt động kinh doanh trong nước chịu thuế và thuế GTGT chưa khấu trừ hết từ tháng trước chuyển sang), nhưng sau khi bù trừ với số thuế GTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán trong nước và phân bổ theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu trong kỳ với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế của cơ sở kinh doanh trong kỳ, nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa dịch vụ xuất khẩu đã tính phân bổ như trên chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì cơ sở kinh doanh không được xét hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGT theo tháng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
Cụ thể:
Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng
=
Thuế GTGT đầu ra của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước
-
Tổng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ phát sinh trong tháng (bao gồm: thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động xuất khẩu, phục vụ hoạt động kinh doanh trong nước chịu thuế và thuế GTGT chưa khấu trừ hết từ tháng trước chuyển sang)

Số thuế GTGT đầu vào của hàng xuất khẩu
=
Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng
x
Tỷ lệ % doanh thu xuất khẩu / Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
Ví dụ:
Tháng 3/2012 Tờ khai thuế GTGT của doanh nghiệp X có số liệu:
- Thuế GTGT kỳ trước chuyển sang: 0,15 tỷ đồng.
- Thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động xuất khẩu, phục vụ hoạt động kinh doanh trong nước chịu thuế phát sinh trong tháng: 4,8 tỷ đồng.
- Tổng doanh thu (TDT) là 21,6 tỷ, trong đó: doanh thu xuất khẩu (DTXK) là 13,2 tỷ đồng, doanh thu bán trong nước chịu thuế GTGT là 8,4 tỷ đồng.
Tỷ lệ % DTXK/TDT = 13,2/21,6 x 100% = 61%.
- Thuế GTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán trong nước là 0,84 tỷ đồng.
Số thuế GTGT được hoàn theo tháng của hàng xuất khẩu được xác định như sau:
Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng
=
0,84 tỷ đồng
-
(0,15 + 4,8 ) tỷ đồng

=
- 4,11 tỷ đồng.


Như vậy số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng là 4,11 tỷ đồng.
- Xác định số thuế GTGT đầu vào của hàng xuất khẩu
Số thuế GTGT đầu vào của hàng xuất khẩu
=
4,11 tỷ đồng
x
61%

=
2,507 tỷ đồng


Số thuế GTGT đầu vào của hàng xuất khẩu (sau khi bù trừ và sau khi phân bổ) chưa khấu trừ hết là 2,507 tỷ đồng lớn hơn (>) 200 triệu, theo đó doanh nghiệp được hoàn 2,507 tỷ đồng tiền thuế GTGT theo tháng. Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước không được hoàn theo tháng là 1,603 tỷ đồng (1,603 tỷ = 4,11 tỷ - 2,507 tỷ) được chuyển kỳ sau khấu trừ tiếp.”
Điều 2. Tổ chức thực hiện.
1. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
2. Trường hợp từ ngày 01/3/2012 bên cho thuê xưởng đã lập hóa đơn, tính thuế GTGT khi cho doanh nghiệp chế xuất thuê xưởng thì các bên lập hóa đơn GTGT điều chỉnh lại hóa đơn đã lập với mức thuế suất thuế GTGT là 0%.
3. Trường hợp từ ngày 01/3/2012 cơ sở kinh doanh không phải là tổ chức tín dụng đã lập hóa đơn, tính thuế GTGT đối với khoản lãi cho tổ chức, cá nhân khác vay vốn thì các bên lập hóa đơn điều chỉnh và thực hiện điều chỉnh lại khoản lãi tiền vay về đối tượng không chịu thuế GTGT. Trường hợp các bên không thực hiện điều chỉnh hóa đơn đã lập, nếu tổ chức vay vốn sử dụng vốn vay phục vụ hoạt động kinh doanh chịu thuế GTGT thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định căn cứ hóa đơn GTGT của bên cho vay.
4. Trường hợp hợp đồng cung cấp dịch vụ số hóa cho phía nước ngoài được ký kết trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì thuế GTGT tiếp tục thực hiện như hướng dẫn tại văn bản quy phạm pháp luật tương ứng tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trường hợp hợp đồng cung cấp dịch vụ số hóa cho phía nước ngoài được ký kết từ ngày 01/3/2012 thuộc đối tượng chịu thuế GTGT nay thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại Thông tư này thì áp dụng theo quy định tại Thông tư này kể từ ngày 01/3/2012.
5. Các nội dung không hướng dẫn tại Thông tư này và các nội dung không trái với nội dung hướng dẫn tại Thông tư này được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính về thuế giá trị gia tăng.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh về Bộ Tài chính để được hướng dẫn giải quyết kịp thời./.


Nơi nhận:
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội;
- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng;
- Cơ quan Trung ương của các Đoàn thể;
- HĐND, UBND, Sở TC, Cục thuế, Cục Hải quan các tỉnh, TP trực thuộc TW;
- Công báo;
- Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);
- Website Chính phủ;
- Các đơn vị thuộc Bộ;
- Website Bộ Tài chính;
- Lưu: VT; TCT (VT, CS).
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Đỗ Hoàng Anh Tuấn

Tải tập tin tại đây







THE MINISTRY OF FINANCE
-------
No. 16/2013/TT-BTC
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------
Hanoi, February 08, 2013


CIRCULAR
GUIDING IMPLEMENTATION OF THE EXTENSION OF TIME LIMITS, REDUCTION OF A FEW OF STATE BUDGET REVENUES ACCORDING TO THE GOVERNMENT’S RESOLUTION NO. 02/NQ-CP, OF JANUARY 07, 2013 ON A NUMBER OF SOLUTIONS TO REMOVE DIFFICULTIES FOR BUSINESS PRODUCTION, MARKET SUPPORT, SETTLEMENT OF BAD DEBTS


Pursuant to the Law on Tax administration No. 78/2006/QH11, of November 29, 2006;
Pursuant to the Law on State budget No. 01/2002/QH11, of December 16, 2002;
Pursuant to the Law on Land No. 13/2003/QH11, of November 23, 2003;
Pursuant to the Law on Value-added tax No. 13/2008/QH12, of June 03, 2008;
Pursuant to the Law on Enterprise income tax No. 14/2008/QH12, of June 03, 2008;
Pursuant to the Government’s Resolution No. 02/NQ-CP, of January 07, 2013 on a number of solutions to remove difficulties for business production, market support, settlement of bad debts.
Pursuant to the Government’s Decree No.118/2008/ND-CP, of November 27, 2008, defining the functions, tasks, powers and organizational structure of the Ministry of Finance;
At the proposal of General Director of General Department of Taxation;
The Minister of Finance promulgates the Circular guiding implementation of the extension of time limits, reduction of a number of state budget revenues according to the Government’s Resolution No. 02/NQ-CP, of January 07, 2013 on a number of solutions to remove difficulties for business production, market support, settlement of bad debts as follows:
Chapter I
ENTERPRISE INCOME TAX
Article 1. Extension of enterprise income tax payment time limit
1. To prolong duration of enterprise income tax payment for 06 months applying to payable enterprise income tax amounts of quarter I and prolong duration of enterprise income tax payment for 03 months applying to payable enterprise income tax amounts of quarter II and quarter III of 2013 for the following subjects:
a) Medium and small-sized enterprises, including branches, affiliated units but independence accounting, cooperatives (employing less than 200 laborers working full-time during year and attaining year revenue not exceeding 20 billion dong) (hereinafter referred to as medium and small-sized enterprises).
b) Intensive-labour enterprises (more than 300 laborers) in production or processing fields of: Agricultural products, forestry products, aquatic products, textile and garment, leather and footwear, electronic components, building of socio-economic infrastructural constructions (hereinafter referred to as intensive-labour enterprises).
c) Enterprises of housing (sale, lease, lease-purchase) investment – business.
2. Medium and small-sized enterprises, subject to being entitled extension of tax payment time limits specified in point a, clause 1 this Article are enterprises meeting full criteria on labor and revenue, which are defined as follows:
a) Way to define labor criterion:
The year average labor quantity (excluding laborers working full-time of branches, affiliated units but independence accounting) as the basis for defining of medium and small-sized enterprises shall be the average total laborers regularly used by enterprises in 2012 which is less than 200 laborers, excluding laborers with short-term contract less than 3 months.
The average labor quantity used regularly in year is defined as guides in the Circular No. 40/2009/TT-BLDTBXH, of December 03, 2009 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs guiding way to calculate labor quantity used regularly as prescribed in the Government’s Decree No. 108/2006/ND-CP, of September 22, 2006, detailing and guiding implementation of a number of articles of the Law on investment.
For enterprises newly established as from January 01, 2013, the total laborers, excluding laborers with short-term contracts less than 3 months shall be the average labor quantity used regularly calculated from the establishment day to March 31, 2013 (if established in quarter I of 2013), to June 30, 2013 (if established in quarter II of 2013), to September 30, 2013 (if established in quarter III of 2013) and less than 200 laborers.
b) Way to define revenue criterion:
Enterprises with revenue to calculate 2012 enterprise income tax not exceeding 20 billion dong are defined on the basis of item "turnover from goods and service sale" of number code [01] in the Annex on result of business production activity of taxation period of 2012 (enclosed with declaration of EIT finalization No. 03/TNDN of 2012) – form No. 03-1A/TNDN (promulgated together with the Circular No. 28/2011/TT-BTC, of February 28, 2011 of the Ministry of Finance).
In case an enterprise newly established in 2012, of which business production activity in 2012 is not sufficient 12 months, the revenue criterion in 2012 shall be defined to not exceed 1.66 billion dong multiplied (x) with quantity of months operating business production in year.
For an enterprise newly established in 2013, revenue defined on the basis of item "turnover arisen in taxation period" of number code [21] in the declaration of temporarily calculating EIT – Form No. 01A/TNDN or form No. 01B/TNDN (promulgated together with the Circular No. 28/2011/TT-BTC, of February 28, 2011, of the Ministry of Finance). If an enterprise was established in quarter I of 2013, revenue shall be defined in the declaration of quarter I of 2013 not exceeding 1.66 billion dong multiplied (x) with quantity of months of business production activity in quarter, established in quarter II of 2013, revenue shall be defined in the declaration of quarter II of 2013 not exceeding 1.66 billion dong multiplied (x) with quantity of months of business production activity in quarter, established in quarter III of 2013, revenue shall be defined in the declaration of quarter III of 2013 not exceeding 1.66 billion dong multiplied (x) with quantity of months of business production activity in quarter.
c) In case an enterprise being a company organized under model of mother company - subsidiary company and these companies meeting labor criterion (using less than 200 laborers working full-time) and have revenue of 2012 not exceeding 20 billion dong and not do business in fields not permitted to prolong tax payment time limit, such enterprise shall be subject to be entitle to prolong EIT payment time limit.
d) Not apply to prolong EIT payment time limit as prescribed in point a clause 1 this Article to the following subjects:
- Enterprises operating in fields of: Finance; banking; insurance; securities; lottery; games with prizes; business in goods or services subject to excise tax.
In case a medium and small-sized enterprise not do business in fields of: Finance, banking, if in taxation period it has other income from financial business activity such as: Interest from deposit, interest from loaning, enterprise shall be prolonged tax payment time limit for its mentioned-above income amounts.
- Economic organizations are non-business units.
3. Intensive-labour enterprises (including laborers of branches and affiliated units) in fields entitled to prolong tax payment time limit as guided in point b clause 1 this Article include:
a) Enterprises with average total laborers used regularly in 2012 more than 300 persons, excluding laborers with short-term contracts less than 3 months for enterprises established before January 01, 2013. The average labor quantity used regularly in year is defined as guides in the Circular No. 40/2009/TT-BLDTBXH, of December 03, 2009 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs guiding way to calculate labor quantity used regularly as prescribed in the Government’s Decree No. 108/2006/ND-CP, of September 22, 2006, detailing and guiding implementation of a number of articles of the Law on investment.
For enterprises newly established as from January 01, 2013, the total laborers, excluding laborers with short-term contracts less than 3 months shall be the average labor quantity used regularly calculated from the establishment day to March 31, 2013 (if established in quarter I of 2013), to June 30, 2013 (if established in quarter II of 2013), to September 30, 2013 (if established in quarter III of 2013) and more than 300 laborers.
In case a enterprise organized under model of mother company - subsidiary companies, the labor quantity as the basis for defining mother company as subject to be entitled to prolong tax payment time limit shall exclude laborers of subsidiary companies and vice versa.
b) The EIT amounts entitled to prolong tax payment time limit shall be tax amounts calculated on income from production, processing of: Agricultural products, forestry products, aquatic products, textile and garment, leather and footwear, electronic components, and building of socio-economic infrastructural constructions.
c) Production, processing of: Agricultural products, forestry products, aquatic products, textile and garment, leather and footwear (including leather shoes, leather sandals of all kinds), electronic components are defined by basing on regulation in the Vietnam’s system of Economic Branches promulgated together with the Decision No. 10/2007/QD-TTg, of January 23, 2007 of the Prime Minister.
d) Activities in building of socio-economic infrastructural constructions include construction, installment of: Water plants, power plants, works for electric transmission and distribution, system for water supply and drainage; road, railway; airport, seaport, river port; railway-station, bus station; building of school, hospitals, cultural houses, cinemas, art-performing establishments, sport competition and exercising establishments; sewage and solid waste treatment system; works of communication, irrigational works in service for agriculture, forestry, fisheries.
4. Enterprises of housing business investment (sale, lease, or purchase-lease) are entitled to prolong tax payment time limit for tax amounts calculated on income from housing business investment, irrespective of scope of enterprises and the used labor quantity.
Article 2. Defining of enterprise income tax amounts entitled to prolong payment time limit
1. The payable EIT amounts arising of quarter I, quarter II and quarter III in 2013 of enterprises being subjects to be entitled to prolong tax payment are temporarily-calculating EIT amounts of quarter I, quarter II and quarter III in 2013.
2. The EIT amounts entitled to prolong tax payment time limit are defined by result of business accounting of enterprises if enterprises separately account income from business activities entitled to prolong tax payment time limit.
3. In case an enterprise have both income from business production activities entitled to prolong tax payment time limit and income from business production activities not entitled to prolong tax payment time limit, it must separately account income from business activities entitled to prolong tax payment time limit and business activities not entitled to prolong tax payment time limit for the separate declaration and tax payment. If it fails to separately account, the temporarily-calculating EIT amounts of quarter I, quarter II, quarter III of business production activities entitled to prolong time limit shall be defined under rate between total revenue of business production activities entitled to prolong time limit and its total performed revenue.
Article 3. Duration for extension of enterprise income tax payment time limit
Enterprises implement declaration of quarterly temporary payment EIT amounts of 2013 as prescribed of the Law on Tax administration. Duration of extension of tax payment time limit is 06 months from the day of ending time limit of EIT payment for the payable EIT amounts arising of quarter I of 2013 and 03 months from the day of ending time limit of EIT payment for the payable EIT amounts arising of quarter II and quarter III of 2013 according to provisions of the Law on Tax administration as follows:
1. Duration of extension of tax payment time limit for the payable EIT amounts arising of quarter I of 2013 entitled to prolong tax payment time limit shall be not later than October 30, 2013.
2. Duration of extension of tax payment time limit for the payable EIT amounts arising of quarter II of 2013 entitled to prolong tax payment time limit shall be not later than October 30, 2013.
3. Duration of extension of tax payment time limit for the payable EIT amounts arising of quarter III of 2013 entitled to prolong tax payment time limit shall be not later than January 30, 2014.
4. If tax payment days specified in clauses 1, 2 and 3 this Article are days off as prescribed by law, duration of extension of tax payment time limit shall be calculated on the next working day.
Article 4. Conditions, orders of and procedures for extension of tax payment time limit
1. Enterprises entitled to prolong EIT payment time limit specified in Article 1 this Circular are enterprises established and operate under Vietnam’s laws, implement regulations on accounting, invoices, vouchers as prescribed by law and tax payment as declared.
2. Enterprises being subjects of extension as prescribed in Article 1 this Circular must make Annex No. 1 (promulgated together with this Circular) and send it to the direct management tax agencies, enclosed with quarterly declaration on temporarily-calculating EIT being entitled to prolong tax payment time limit, in which clearly defining: Condition of enterprise for being subjects of extension of EIT payment time limit and the EIT amounts entitled to prolong tax payment time limit.
3. In duration entitled to prolong tax payment time limit, enterprises shall not be considered as violating tax payment delay and not be sanctioned on act of deferred tax payment for tax amounts entitled to prolong payment time limit.
Chapter II
VALUE ADDED TAX
Article 5. Extension of value added tax payment time limit
1. To prolong 06 months for value added tax (VAT) payment time limit for payable VAT amounts arising of January, February, March of 2013 (excluding VAT at import stage) for enterprises performing VAT payment under deduction method being the following subjects:
a) Medium and small-sized enterprises, including cooperatives (employing less than 200 laborers working full-time and attaining year revenue not exceeding 20 billion dong), excluding enterprises operating in fields: Finance; banking; insurance; securities; lottery; games with prizes; production of goods or services subject to excise tax (hereinafter referred to as medium and small-sized enterprises).
b) Intensive-labour enterprises (more than 300 laborers) in production or processing fields of: Agricultural products, forestry products, aquatic products, textile and garment, leather and footwear, electronic components, building of socio-economic infrastructural constructions (hereinafter referred to as intensive-labour enterprises).
c) Enterprises of housing (sale, lease, lease-purchase) business investment and enterprises producing items as: Iron, steel, cement, bricks, tiles.
2. Medium and small-sized enterprises specified in point a clause 1 this Article are enterprises meeting full criteria on labor and revenue, which are defined as follows:
a) Way to define labor criteria:
The year average labor quantity (excluding laborers working full-time of branches, affiliated units but independence accounting) as the basis for defining of medium and small-sized enterprises shall be the average total laborers regularly used by enterprises in 2012, excluding laborers with short-term contract less than 3 months.
The average labor quantity used regularly in year is defined as guides in the Circular No. 40/2009/TT-BLDTBXH, of December 03, 2009 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs guiding way to calculate labor quantity used regularly as prescribed in the Government’s Decree No. 108/2006/ND-CP, of September 22, 2006, detailing and guiding implementation of a number of articles of the Law on investment.
For enterprises newly established as from January 01, 2013, the total laborers, excluding laborers with short-term contracts less than 3 months shall be calculated from the establishment day to January 31, 2013 (if established in January, 2013), to February 28, 2013 (if established in February 2013), to March 31, 2013 (if established in March 2013).
b) Way to define revenue criterion:
Enterprises with the 2012 revenue not exceeding 20 billion dong are defined by basing on total item [34] (total turnover from goods and services sale, including revenue subject to VAT and not subject to VAT) on the monthly VAT declaration (Form No. 01/GTGT promulgated together with the Circular No. 28/2011/TT-BTC, of February 28, 2011) from January to the end of December 2012.
In case an enterprise newly established in 2012, of which business and production activity in 2012 is not sufficient 12 months, or newly established in 2013, the revenue criterion shall be defined as follows: Total item [34] (total turnover from goods and services sale, including revenue subject to VAT and not subject to VAT) on the VAT declaration of months operating business production not exceeding 1.66 billion dong multiplying (x) with quantity of months operating business production.
c) If an enterprise defined as medium and small-sized enterprise has branches, affiliated units located in provinces other than place where its head office is located (excluding units operating extra-provincial mobile construction, installation or goods sale business declaring temporarily-calculating VAT under rate of 1%, or 2%), and implemented the separate VAT declaration to the direct tax administration agencies of branches, affiliated units, branches, affiliated units are subjects entitled to prolong VAT payment time limit too.
Enterprises make list of branches, affiliated units (clearly writing name, address, tax code, quantity of laborers and operating fields of each branch) and notify the list to tax agencies directly managing such branches, affiliated units. Enterprises are liable to responsibility before law for accuracy of list of branches, affiliated units sent to tax agencies.
d) Not apply extension of 06 months for VAT payment time limit for the following subjects:
d.1) Enterprises operating in fields: Finance; banking; insurance; securities; lottery; games with prizes; production of goods or services subject to excise tax.
d.2) Economic organizations are non-business units.
3. Intensive-labour enterprises (employing more than 300 laborers) (including labor quantity of branches and affiliated units) in fields entitled to prolong tax payment time limit as guided in point b clause 1 this Article include:
a) Enterprises with average total laborers used regularly in 2012 more than 300 persons, excluding laborers with short-term contracts less than 3 months for enterprises established before January 01, 2013.
For enterprises newly established as from January 01, 2013, the total laborers, excluding laborers with short-term contracts less than 3 months, shall be calculated from the establishment day to January 31, 2013 (if established in January, 2013), to February 28, 2013 (if established in February 2013), to March 31, 2013 (if established in March 2013).
Production, processing activities of: Agricultural products, forestry products, aquatic products, textile and garment, leather and footwear (including leather shoes, leather sandals of all kinds), electronic components specified in point b clause 1 this Article are defined by basing on regulation in the Vietnam’s system of Economic Branches promulgated together with the Decision No. 10/2007/QD-TTg, of January 23, 2007 of the Prime Minister.
Activities of building socio-economic infrastructural constructions specified in point b clause 1 this Article include construction, installment of: Water plants, power plants, works for electric transmission and distribution, system for water supply and drainage; road, railway; airport, seaport, river port; railway-station, bus station; building of school, hospitals, cultural houses, cinemas, art-performing establishments, sport competition and exercising establishments; sewage and solid waste treatment system; works of communication, irrigational works in service for agriculture, forestry, fisheries.
b) If a intensive-labour enterprise operating business production in fields not subject to be entitled to prolong time limit, the VAT amount entitled to prolong time limit is defined as follows:
VAT entitled to prolong time limit of month
=
Payable VAT under the declaration of the month entitled to prolong time limit
x
Revenue subject to VAT of field entitled to prolong time limit in month
Total revenue of goods and services subject to VAT in month
c) Individuals, affiliated units of intensive-labour enterprises in fields in provincial-level localities other than place where head office of enterprises is placed implement the separate VAT declaration to the direct tax administration agencies of branches, affiliated units entitled to prolong VAT payment time limit (excluding units with extra-provincial mobile construction, installation or goods sale business declaring temporarily-calculating VAT under rate of 1%, or 2%), if branches, affiliated units have activities of business production subject to field entitled to prolong time limit.
If branches or affiliated units of enterprises have no business production activity subject to fields entitled to prolong time limit, they are not subjects to be entitled to prolong time limit.
Enterprises make list of branches, affiliated units (clearly writing name, address, tax code, quantity of laborers and operating fields of each branch) and notify the list to tax agencies directly managing such branches, affiliated units. Enterprises are liable to responsibility before law for accuracy of list of branches, affiliated units sent to tax agencies.
4. Enterprises of housing (sale, lease, lease-purchase) business investment and enterprises producing items as: Iron, steel, cement, bricks, tiles (regardless of scope of enterprises and quantity of laborers) entitled to prolong VAT payment time limit as guided in point c clause 1 this Article are defined as follows:
a) The VAT amounts entitled to prolong time limit are payable VAT amounts for products being houses, iron, steel, cement, bricks, or tiles.
If a enterprise performing many business production activities, apart from products entitled to prolong time limit, the VAT amount entitled to prolong time limit is defined as follows:
VAT entitled to prolong time limit
=
Payable VAT arising under the declaration of the month entitled to prolong time limit
x
Revenue subject to VAT of products being iron, steel, cement, bricks, tiles.
Total revenue of goods and services subject to VAT
b) Branches, affiliated units of enterprises of housing business investment (sale, lease, purchase-lease) and enterprises producing items: iron, steel, cement, bricks, tiles in provincial-level localities other than place where head office of enterprises implement separate VAT declaration to the direct tax administration agencies of branches, affiliated units and base on guide in point a this clause to define the payable VAT amounts arising for products being iron, steel, cement, bricks, tiles.
5. A number of other guides:
a) Enterprises being subjects entitled to prolong VAT payment time limit as guided in this Article implement declaration and submission of the VAT declaration of January, February, March 2013 as prescribed but not required for immediate payment the payable VAT amounts arising on the made VAT declaration.
- The payment time limit of VAT arising in January 2013 shall be not later than August 20, 2013.
- The payment time limit of VAT arising in February 2013 shall be not later than September 20, 2013.
- The payment time limit of VAT arising in March 2013 shall be not later than October 21, 2013.
b) Enterprises shall self-define subject entitled to prolong VAT payment time limit, the VAT amounts entitled to prolong time limit, declare in Annex 2 (promulgated together with this Circular) and send it together with the VAT declaration in month of extension of VAT payment time limit.
If an enterprise has submitted VAT declaration of January, February, March 2013 but has not yet made Annex 2 as mentioned above, it may make and send additionally to tax agencies. In duration entitled to prolong tax payment time limit, units shall not be sanctioned due to deferred tax payment.
c) If an enterprise being subject entitled to prolong VAT payment time limit as guided in this Article has declared and paid tax for payable VAT amount arising in January 2013, it is required to implement declare for supplementation and adjustment. After declaration and adjustment, if it has excessive paid tax amount, it is entitled to balance in payable VAT amount of other activity or payable VAT amount of the next taxation period or suggest tax refund as prescribed.
Chapter III
LAND RENTS AND LAND USE LEVY
Article 6. Reduction of land rents
1. Subjects of application
a) Economic organizations (including non-business units with revenues, cooperatives), households, individuals who is leased land by the State through annual rent payment prior December 31, 2010, using land with right purpose, in 2011, subject to adjust the unit price of land renting as prescribed in the Government’s Decree No. 121/2010/ND-CP, of December 03, 2010 and the land rents arising in 2013, 2014 increased more than twice in comparison with the land rents arising in 2010.
The land rents as the basis for reducing consideration according to the Resolution No. 02/NQ-CP and provisions in this Circular are land rents arising in year but have not yet deducted the amounts of compensation, support which are deducted in the payable land rents as prescribed by law.
b) Economic organizations, households, individuals specified in point a this clause, who in 2013, 2014 are reduced land, water surface rents according to other regulations but the payable remaining land rents after deducting amounts reduced according to such other regulations are more than twice of the payable land rents of 2010, shall be entitled to reduce payable land rents in 2013, 2014 as prescribed in this Circular.
c) Economic organizations being subjects entitled to reduce land rents in 2012 according to the Circular No. 83/2012/TT-BTC, of May 23, 2012 of the Ministry of Finance but have not been settled because failed to meet provisions on procedures, dossiers according to the Circular No. 83/2012/TT-BTC.
These cases are continued to consider for reduction of payable land rents of 2012 when there is a written sent to direct tax administration agencies as guided in clause 3 this Article.
d) Cases of using land leased by state prior December 31, 2010 but have not yet had sufficient papers of land renting as prescribed by law on land, not violating law relating to land management and use, the payable land rents of 2010 which are calculated temporarily by tax agencies under unit price for collection of land rents specified in the Government's Decree No. 142/2005/ND-CP, of November 14, 2011 and of 2011 calculated under unit price for collection of land rents specified in the Government's Decree No. 121/2010/ND-CP, of December 03, 2010, if the payable land rents which are calculated temporarily of 2013, 2014 are more than twice of the payable land rents of 2010.
2. Organizations, households, individuals being subjects specified in clause 1 this Article are entitled to reduce 50% (fifty percent) of the payable land rents arising in 2013, 2014. If after being reduced, the payable land rents of 2013, 2014 are still more than twice of the payable land rents of 2010, they shall be entitled to continue reducing until the payable land rents of 2013, 2014 are equal twice of the payable amounts of 2010.
3. Order, procedures and competence of reduction of land rents are implemented as follows:
a) Economic organizations, households, individuals subject to be entitled reduction of land rents according to clause 1 this Article must have a written request for reduction of land rents and send it to the direct tax administration agencies in order to do procedures for consideration to reduce, in which have sufficient information according to the form in the Annex No. 3 promulgated together with this Circular.
b) Based on request of persons who are leased land by state, the direct tax administration agencies shall examine dossiers, make list, consult with Natural Resources and Environment agencies of same level and submit to the People’s Committee of same level for approval; On such basis, promulgating decision on reduction of land rents under their competence specified in Article 13 of the Government's Decree No. 142/2005/ND-CP, of November 14, 2005 and amending and supplementing documents (if any).
For cases of using land leased by state but have not yet had sufficient papers of renting land as prescribed, the payable land rents of units which are calculated temporarily by tax agencies, tax agencies shall implement adjustment of the payable amounts (the temporarily-calculated amount) of 2013, 2014 and clearly writing on the notice of land rent payment. When units complete procedures for renting land as prescribed, the tax agencies shall issue decision on reduction of land rents; the land rent amounts, which being reduced and indicated on decision, are land rents which are defined for temporary reduction as prescribed in this Circular.
c) During time of submission of dossier to tax agencies and provincial People’s Committee (for economic organizations) and district People’s Committee (for households, individuals) have yet had opinion for approval, economic organizations, households, individuals in cases specified in clause 1 this Article are entitled to temporarily pay land rents equal to the payable land rents of 2010.
Article 7. Land use levy
1. Projects using land for building of house for sale, for lease, of business in infrastructure for transfer under form of being allocated by the State with the collection of land use levy and investors have been handed over land for performance but have not yet finished financial obligation on land use levy because there are financial difficulties such as: The financial result calculated to December 31, 2012 suffers loss or expenditure of enterprises is more than revenue because valid of inventory is too much or really enterprises spent much for investment but have not yet had revenue because goods have not yet been sold, the land use levy may be paid within 24 months from the day required for land use levy payment indicated on notice of tax agencies and not be calculated fine due to late payment in this duration.
2. The investor of project who has not yet finished financial obligation on land use levy because there are financial difficulties specified in clause 1 this Article must have a written request enclosed with papers relating to information stated in the request and send it to tax administration agency – where unit declare and pay EIT in according to form in Annex No. 04 promulgated together with this Circular; based on dossier received, tax agency shall make a list and send it for consulting the Service of Finance, provincial Department of Natural Resources and Environment and and report to provincial People’s Committee in order to submit the standing committee of people's council to consider before making decision on the basis of balancing of the local budget resource.
In these cases, when declaring the quarterly EIT calculated temporarily, the investor of project must declare and pay land use levy corresponding to income declared according to form in the Annex No. 05 promulgated together with this Circular. The payable land use levy shall be the amounts defined corresponding to the land use amounts which are collected by investor of project under the contracts of real estate transfer which have been signed; If a transfer contract fails to define clearly the land use revenues, it is required to collect under proportion of land use revenues which must paid for state budget on total sale turnover from transfer of real estate of enterprise.
Chapter IV
ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION
Article 8. Effect
This Circular takes effect on March 25, 2013.
Article 9. Responsibility for implementation
1. People’s Committees of central-affiliated cities and provinces shall direct functional agencies to implement in accordance with regulation of the Government and guides of the Ministry of Finance.
2. The tax agencies of all level shall popularize, guide for organizations, individuals in order to implement in accordance with this Circular.
3. Organizations, individuals being subjects regulated by this Circular shall implement in accordance with guides in this Circular.
In the course of implementation, any arising problems should be reported timely to the Ministry of Finance for research and settlement.



FOR THE MINISTER OF FINANCE
DEPUTY MINISTER





Do Hoang Anh Tuan






Bảng  tiếng Việt Thông tư số 16/2013/TT-BTC ngày 08 tháng 02 năm 2013 của Bộ Tài chính về tháng 02 năm 2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu Ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, tại đây
Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đã có rất nhiều bạn yêu mến. Nếu bạn cũng yêu mến hãy +1 để ủng hộ Lê Minh Trí

  • BÀI MỚI
  • BÌNH LUẬN

LIÊN KẾT WEBSITE

  • Bảo Hiểm Xã Hội TP.HCM
  • Bảo hiểm xã hội Việt Nam
  • Bộ Tài Chính
  • Chánh Đạt Online
  • Chùa Ngưỡng Quan
  • Chơn Ngọc
  • Cổng TTĐT Chính Phủ
  • Cục Thuế TP.HCM
  • Diễn Đàn Giải Pháp Excel
    Xác định các id dưới 1 khoảng cách nhất định
    9 năm trước
  • Ho Chi Minh CityWeb
  • Hải Quan Việt Nam
  • Sở Lao Động TP.HCM
  • Trang chủ Webketoan.vn
  • Tổng Cục Thuế
  • Ẩm Thực Chay
    Vò viên chay sốt cà - Chùa Giác Lâm
    8 năm trước

ĐƯỢC QUAN TÂM

  • Phụ lục 3 - CÁC MẪU HÓA ĐƠN, BẢNG BIỂU (Ban hành kèm theo Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của BTC)
  • TT 16/2013/TT-BTC - 08/02/2013 Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu NSNN
  • Tổng hợp các văn bản V/v cho phép viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn được cơ quan thuế chấp thuận
  • NGHỊ ĐỊNH 66/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 06 năm 2013 của Chính Phủ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
  • Ebook - Nghiệp vụ thuế Phiên bản 2012

THỜI GIAN LÀM VIỆC

KHÁCH VIẾNG THĂM

Sparkline
Bản Quyền 2010-2011 @ Tri Thức Kế Toán . All rights reserved.
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ Lê Minh Trí. leminhtri1956@yahoo.com
Designed by Thích Trí Giải | Based on SimplexDesign